How to Draw Moon Energy?
Drawing energy from the moon can be a great way to aid healing and spiritual growth. In this article I will teach you a method for gathering moon energy.

Instructions
-
- 1
Go outside on the night of the full moon. It is best if you have recently bathed, and are dressed in clean, comfortable clothing.
- 2
Sit or stand outside. If possible, it is good to have your feet bare and on the ground during this excecise
- 3
Relax yourself. Look at the moon. Try to feel the cool glow of the moon washing over your skin.
- 4
Breathe in, and imagine that you are drawing in the light and energy of the moon itself. As you inhale, feel the energy swirling in your head, then traveling in your veins through your whole body.
- 5
When you exhale, imagine the moon energy pushing negative energy, stress and sickness out through your feet, where it is returned to the Earth.
- 6
Keep breathing and feeling the energy of the moon moving through your body. If you have stress or illness, you may choose to imagine the moonlight and energy collecting in your heart, or the afflicted area, healing it and pushing out the bad feelings.
- 7
While the night of the full moon is best, the days just before and just after can also be used in the same way.
- 8
If you have a piece of magickal jewelry or a talisman, you can wear it while you draw moon energy, and allow the item to store some of the energy for later use.
HẤP THỤ NĂNG LƯỢNG MẶT TRĂNG
Vì sao nên đón ánh trăng vào phòng ngủ?
Năng lượng mặt trăng là năng lượng âm, nhưng đó là năng lượng âm dịu, yên tĩnh, thuận tiện cho việc nghỉ ngơi, mang lại bầu không khí tốt và huyền diệu – loại khí thúc đẩy sự phát triển của tiềm thức. Nhiều nghi thức của Lão giáo có liên quan đến khí công đều thu khí từ mặt trăng. Các bậc thầy về khí công cũng tập thu năng lượng ánh sáng từ mặt trăng.
Để tạo bầu không khí ấm cúng và thoải mái trong phòng ngủ, hãy khơi dậy năng lượng mặt trăng bằng cách sử dụng gương và đồ pha lê.
Gương và năng lượng mặt trăng
Năng lượng mặt trăng có thể thu thập tượng trưng bằng cách dùng gương. Theo phong thuỷ, khi bạn chiếu gương tròn vào mặt trăng tròn sáng, thì nó có thể hút rất nhiều năng lượng mặt trăng. Nếu bạn đứng đối diện với mặt trăng và tưởng tượng ánh sáng mặt trăng đang thấm vào vầng hào quang của bạn khi bạn đang hít thở nhịp nhàng, bạn cũng có thể hấp thụ một số khí lực của mặt trăng.

Tăng cường năng lượng cho đồ pha lê và gương bằng năng lượng mặt trăng, sau đó đặt chúng cạnh giường đối diện với cửa phòng ngủ.
Vấn đề là hấp thụ năng lượng tốt của mặt trăng, tức là ánh sáng của mặt trăng vào những ngày may mắn mang lại điềm lành. Người Trung Hoa yêu thích trăng tròn vào ngày rằm tháng Giêng âm lịch hoặc trung thu. Nếu bạn quên hấp thụ năng lượng mặt trăng vào những ngày trăng tròn, hoặc nếu thời tiết xấu, mây che phủ mặt trăng, thì hãy đợi lúc trăng non. Ánh sáng của trăng non luôn mang lại điềm lành và sự may mắn, trong khi ánh sáng của trăng già biểu hiện năng lượng yếu dần.
Ảnh Hưởng Của Mặt Trăng Đến Tính Khí Con Người
Truyền thuyết của các dân tộc trên thế giới thường quy kết mặt trăng là nguyên nhân của nhiều vấn đề trong cuộc sống con người. Các nghiên cứu mới đây cho thấy mặt trăng thực sự có ảnh hưởng đến sự sống trên trái đất.
Khi ngước mặt nhìn lên ánh sáng bạc trên nền trời mỗi đêm, tùy vào những hình thái khác nhau của mặt trăng mà người ta liên tưởng đến sự sinh sản, chết chóc, hạnh phúc và tội phạm... Thế nhưng, theo các nhà khoa học thì tác động của mặt trăng không chỉ thấy rõ qua sự thay đổi của mực nước thủy triều, mà còn ảnh hưởng đến hàng loạt vấn đề từ tâm thần đến thể lý của con người...
Về tâm thần
Từ lâu, các nhà khoa học đã cố chứng minh những tác động có thể của các hình thái mặt trăng đối với tâm-sinh lý con người. Mặc dù chưa thể nhận diện được mối liên hệ bí ẩn này, nhưng có một thực tế là các chứng tâm thần như trầm cảm và lo âu... dường như thường gia tăng vào giữa tháng âm, khi mặt trăng tròn nhất. Từ kết quả hơn 50 nghiên cứu chuyên ngành gần đây, các nhà khoa học đã khuyến cáo giới chức an ninh và y tế cần có sự chuẩn bị kỹ về tiến độ công việc vào những thời điểm khác nhau của tuần trăng. Một nghiên cứu về tỷ lệ phạm tội hình sự ở Florida cho thấy các vụ án xảy ra chủ yếu vào thời điểm trăng tròn. Một nghiên cứu khác tại 3 khu vực an ninh ở Mỹ cũng đã phát hiện tỷ lệ phạm tội thường gia tăng vào những ngày trăng sáng nhất. Trong khi đó, nghiên cứu 4 năm về an toàn giao thông ở nước này cũng phát hiện tỷ lệ tai nạn xe cộ thường thấp nhất vào ngày trăng tròn, trong khi lại tăng vọt vào khoảng hai ngày trước khi trăng sáng nhất...
Theo các nhà nghiên cứu ở Đại học Quốc gia Georgia, Mỹ, thì sở dĩ có sự khác biệt này là do dinh dưỡng, vì những gì chúng ta ăn chịu tác động không nhỏ của chu kỳ trăng mỗi tháng. Để chứng minh điều này, các nhà khoa học đã tìm kiếm sự khác biệt dưỡng chất theo mùa trăng dựa trên mẫu khẩu phần của 694 người trưởng thành, và đã phát hiện tỷ lệ dinh dưỡng tiêu thụ theo mùa trăng tăng cao đến 8% trong các khẩu phần ăn, cao nhất khi trăng tròn; đặc biệt là mức cồn tiêu thụ giảm 26% vào thời điểm giữa tháng âm.
Có rất nhiều giả thuyết về mối liên hệ giữa mặt trăng và tính khí con người. Một trong số đó là những thay đổi như hậu quả từ lực hút của nó, “vì chính lực hút của mặt trăng đã tạo ra thủy triều thì tại sao lại không tác động đến máu và các tuyến nội tiết của chúng ta, trong khi cơ thể con người có đến 90% là nước - bác sĩ Michael Zimecki ở Viện Hàn lâm khoa học Ba Lan, lý giải. Vấn đề hành vi cũng có liên quan đến sự khác nhau của hình thái mặt trăng, như tỷ lệ tai nạn giao thông, tội phạm và tự vẫn... dường như chịu sự tác động của chu kỳ tuần trăng, chủ yếu là các hậu quả ảnh hưởng do vấn đề cân bằng hoóc môn trong cơ thể. Cũng chính vì lẽ đó, nên chu kỳ tuần trăng cũng có tác động thực sự đến vấn đề sinh nở của con người, đặc biệt là về khả năng thụ thai, kinh nguyệt và tỷ lệ sinh sản...”.
Về thể chất
Một công trình khảo cứu 22 năm do các chuyên gia ở Viện Y học lâm sàng Slovak (Bratislava, Ba Lan) cho thấy các vấn đề về tiêu hóa và hen suyễn luôn gia tăng vào những ngày đầu tháng và khi trăng tròn. Một số công trình khảo sát gần đây ở Đại học Leeds, Anh, cũng phát hiện số lượng bệnh nhân tham vấn bác sĩ thường gia tăng hơn 3,6% vào tuần giữa tháng âm khi mặt trăng tròn nhất, và cứ 3 người thì có một cần những vấn đề liên quan đến phẫu thuật. Một nghiên cứu 3 năm trên 800 bệnh nhân nhập viện vì chứng bí tiểu cũng cho thấy mức độ phát bệnh thường cao hơn vào những ngày đầu tháng âm.
Các nhà nghiên cứu còn phát hiện mối liên hệ giữa chu kỳ tuần trăng và khả năng nhập viện của bệnh nhân tim, các vấn đề đường tiểu và tiêu chảy. “Chu kỳ kinh, khả năng sinh sản, nguy cơ sẩy thai và bệnh về tuyến giáp... cũng chịu tác động của hình thái mặt trăng - bác sĩ Michael Zimecki nói. Mặt dù vẫn còn nhiều bất đồng về mối liên hệ bí ẩn này, nhưng có thể lực hút mặt trăng đã tác động đến hệ miễn dịch và mức độ phóng thích các loại nội tiết và steroid tự nhiên...”.
Dữ liệu từ 140.000 trường hợp chào đời tại New York cho thấy một sự khác biệt về sinh sản trong khoảng thời gian đúng với một chu kỳ trăng, và tỷ lệ sinh sản cao nhất là vào tuần cuối cùng của chu kỳ trăng. Theo bác sĩ Zimecki, tỷ lệ sinh sản cao vào tuần cuối cùng của tháng âm cho thấy độ sáng của ánh trăng giảm ngay sau khi trăng tròn có ảnh hưởng thúc đẩy sự rụng trứng. Vẫn theo bác sĩ Zimecki, mặc dù cơ chế chính xác trong mối tác động hữu cơ giữa mặt trăng và phản ứng miễn dịch rất khó giải thích, nhưng việc nhận diện đúng sẽ giúp giới chức y tế có sự điều chỉnh tương thích, chủ yếu là về phản ứng miễn dịch liên quan đến melatonin và steroid, vì mức độ của các loại hoóc môn này chịu tác động mạnh mẽ của chu kỳ tuần trăng. Melatonin và các loại steroid nội sinh thường xuyên hoạt hóa trong cơ thể con người, gián tiếp quyết định đến tính chất những sự thay đổi có tính chu kỳ của các quá trình xảy ra bên trong cơ thể, đặc biệt khi có sự tác động bức xạ điện từ và lực hút của mặt trăng, sẽ kích thích chúng phóng thích mạnh.
ẢNH HƯỞNG CỦA CHÒM SAO
LA HẦU VÀ KẾ ĐÔ
GIẢI SAO HẠN
Theo người xưa, mỗi năm tuổi có một sao chiếu mạng, trong đó sao La Hầu và Kế Đô ảnh hưởng xấu đến vận hạn từng năm của con người. Trong dân gian này nay vẫn tồn tại tập tục cúng sao giải hạn. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu bảng hạn sao chiếu mạng hàng năm theo tuổi âm lịch để bạn đọc tham khảo.
|
Nam
|
Tuổi tính theo âm lịch
|
Nữ
|
|
La Hầu
|
1
|
10
|
19
|
28
|
37
|
46
|
55
|
64
|
73
|
82
|
91
|
Kế Đô
|
|
Thổ Tinh
|
2
|
11
|
20
|
29
|
38
|
47
|
56
|
65
|
74
|
83
|
92
|
Vân Hớn
|
|
Thủy Diệu
|
3
|
12
|
21
|
30
|
39
|
48
|
57
|
66
|
75
|
84
|
93
|
Mộc Tinh
|
|
Thái Bạch
|
4
|
13
|
22
|
31
|
40
|
49
|
58
|
67
|
76
|
85
|
94
|
Thái Âm
|
|
Thái Dương
|
5
|
14
|
23
|
32
|
41
|
50
|
59
|
68
|
77
|
86
|
95
|
Thổ Tinh
|
|
Vân Hớn
|
6
|
15
|
24
|
33
|
42
|
51
|
60
|
69
|
78
|
87
|
96
|
La Hầu
|
|
Kế Đô
|
7
|
16
|
25
|
34
|
43
|
52
|
61
|
70
|
79
|
88
|
97
|
Thái Dương
|
|
Thái Âm
|
8
|
17
|
26
|
35
|
44
|
53
|
62
|
71
|
80
|
89
|
98
|
Thái Bạch
|
|
Mộc Tinh
|
9
|
18
|
27
|
36
|
45
|
54
|
63
|
72
|
81
|
90
|
99
|
Thủy Diệu
|
1. LA HẦU:
Dân gian có câu "nam La Hầu, nữ Kế Đô". Tức đối phái nam, sao La Hầu có ảnh hưởng mạnh, đối với phái nữ sao Kế Đô có ảnh hưởng mạnh. Đây là hai sao xấu nhất trong chòm sao này, vì vậy mới có câu "Không sợ Thái Bạch, chỉ sợ La Hầu".
-
Đề phòng: kiện tụng, bệnh tật, thua lỗ vì bị lừa hoặc bị bắt, có tang, chuyện bé xé thành chuyện lớn, đánh nhau,...
-
Thời gian: nặng nhất là tháng Giêng, tháng 7 (âm lịch).
-
Giải hạn: cúng ngày mùng 8, thắp 9 nén nhang tượng trưng cho 9 ngọn đèn.
-
Bài vị: lấy giấy màu vàng viết 4 chữ "La Hầu Tinh Quân".
-
Hướng đặt bài vị: hướng Bắc (lạy về hướng Bắc).
(Nếu gặp tai tương, ngày mùng 9 cúng tiếp, lễ nghi cũng như cúng ngày mùng 8).
2. THỔ TINH:
Thổ Tinh gây ra chuyện phiền phức, bệnh tật, kị người mạng Thủy.
* Đề phòng: tiểu nhân hãm hại, bệnh dịch, cãi cọ tranh chấp trong nhà, không nuôi gia cầm.
* Thời gian: nặng nhất là tháng 4 (âm lịch)
* Giải hạn: cúng ngày 19 âm lịch, thắp 5 nén nhang cho 5 ngọn đèn.
* Bài vị: lấy giấy màu vàng viết 4 chữ "Thổ Tú Tinh Quân".
* Hướng đặt bài vị: hướng Bắc (lạy về hướng Bắc).
3. THỦY DIỆU:
Sao Thủy Diệu rất nguy hiểm đối với người mạng Hỏa, cần chú ý khi đi đường thủy; chủ về buôn bán đi xa thì đắc lộc.
* Đề phòng: nạn sông nước, đau ốm, kiện tụng, tranh chấp. Mọi việc nên dĩ hoài vi quý.
* Thời gian: nặng nhất là tháng 4 và tháng 8 (âm lịch)
* Giải hạn: cúng ngày 21 âm lịch, thắp 7 nén nhang tượng trưng cho 7 ngọn đèn.
* Bài vị: lấy giấy màu vàng viết 4 chữ "Thủy Diệu Tinh Quân".
* Hướng đặt bài vị: hướng Bắc (lạy về hướng Bắc).
4. SAO THÁI BẠCH:
Sao Thái Bạch kị người mạng Mộc. Dân gian có câu "Thái Bạch cháy sạch cửa nhà". Bị sao Thái Bạch chiếu hay đau ốm, gặp chuyện cãi cọ, mất của, tiểu nhân lừa đảo hãm hại, tiền của không giữ được.
* Đề phòng: mất của, bệnh tật, tiểu nhân.
* Thời gian: nặng nhất là tháng 5 (âm lịch)
* Giải hạn: cúng ngày rằm âm lịch, thắp 8 nén nhang tượng trưng cho 8 ngọn đèn.
* Bài vị: lấy giấy màu vàng viết 4 chữ "Thái Bạch Tinh Quân".
* Hướng đặt bài vị: hướng Tây (lạy về hướng Tây).
5. SAO THÁI DƯƠNG (Mặt trời):
Được sao Thái Dương chiếu thì làm ăn thuận lợi, đi ra ngoài có lộc, vạn sự như ý, gia đình hạnh phúc, tránh hung phùng cát, phát tài giữ được của, nhất là vào tháng 6 và tháng 10 âm lịch.
* Thời gian cúng sao: ngày 1 âm lịch, thắp 12 nén nhang tượng trưng cho 12 ngọn đèn.
* Bài vị: lấy giấy màu vàng viết 4 chữ "Thái Dương Tinh Quân".
* Hướng đặt bài vị: hướng Bắc (lạy về hướng Bắc).
6. SAO VÂN HỚN:
Đây là sao hung, gây đau ốm bệnh tật, kị người mạng kim.
* Đề phòng: kiện tụng, tranh cãi, ốm đau, bệnh dịch (không nuôi gia cầm năm đó), hỏa hoạn.
* Thời gian: nặng nhất là tháng 2 và tháng 8 (âm lịch).
* Giải hạn: cúng ngày 29 âm lịch, thắp 15 nén nhang tượng trưng cho 15 ngọn đèn.
* Bài vị: lấy giấy màu đỏ viết 4 chữ "Vân Hán Tinh Quân".
* Hướng đặt bài vị: hướng Nam (lạy về hướng Nam).
7. SAO KẾ ĐÔ:
Đây là sao hung, chủ về tranh chấp, cãi cọ, bệnh tật, tang tóc.
* Đề phòng: kiện cáo, tranh cãi, ốm đau, mất của.
* Thời gian: nặng nhất là tháng 3 và tháng 9 (âm lịch).
* Giải hạn: cúng ngày 18 âm lịch, thắp 20 nén nhang tượng trưng cho 20 ngọn đèn.
* Bài vị: lấy giấy màu vàng viết 4 chữ "Kế Đô Tinh Quân".
* Hướng đặt bài vị: hướng Tây (lạy về hướng Tây).
8. SAO THÁI ÂM:
Đây là sao làm ăn thuận lợi, như ý. Cầu tài có tài, nên cúng sao, nhất là tháng 9 làm ăn sẽ phát tài.
* Thời gian cúng sao: ngày 26 âm lịch, thắp 7 nén nhang tượng trưng cho 7 ngọn đèn.
* Bài vị: lấy giấy màu vàng viết 4 chữ "Thái Âm Tinh Quân".
* Hướng đặt bài vị: hướng Tây (lạy về hướng Tây).
9. SAO MỘC ĐỨC:
Sao Mộc Đức là cát tinh, mọi sự như ý, hôn sự cát tường. Sao Mộc Đức kị người mạng Thổ.
* Thời gian cúng sao: ngày 25 âm lịch, thắp 20 nén nhang tượng trưng cho 20 ngọn đèn.
* Bài vị: lấy giấy màu xanh viết 4 chữ "Mộc Đức Tinh Quân".
* Hướng đặt bài vị: hướng Đông (lạy về hướng Đông).
I. Khái niệm
Ngũ: năm; Hành: vận động, đi.
Học thuyết Ngũ hành là một học thuyết về mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng. Đó là một mối quan hệ “động” (vì vậy mà gọi là Hành). Có hai kiểu quan hệ: đó là Tương sinh và Tương khắc. Do đó mà có 5 vị trí (vì vậy mà gọi là Ngũ).
Người xưa mượn tên và hình ảnh của 5 loại vật chất để đặt tên cho 5 vị trí đó là Mộc - Hỏa - Thổ - Kim - Thủy, và gán cho chúng tính chất riêng:
- Mộc: có tính chất động, khởi đầu (Sinh).
- Hỏa: có tính chất nhiệt, phát triển (Trưởng).
- Thổ: có tính chất nuôi dưỡng, sinh sản (Hóa).
- Kim: có tính chất thu lại (Thu).
- Thủy: có tính chất tàng chứa (Tàng).
Sau đó qui nạp mọi sự vật hiện tượng ngoài thiên nhiên lẫn trong cơ thể con người vào Ngũ hành để xét mối quan hệ Sinh - Khắc giữa các sự vật hiện tượng đó.
Như vậy, học thuyết Ngũ hành chính là sự cụ thể hóa qui luật vận động chuyển hóa của mọi sự vật hiện tượng. Học thuyết Ngũ hành được ứng dụng trong rất nhiều kĩnh vực Y học lẫn đời sống.
II. Qui loại Ngũ hành
Có thể tóm tắt việc qui loại các sự vật hiện tượng trong ự nhiên lẫn trong cơ hể con người vào bảng sau (bảng 1)
Bảng 1: qui loại Ngũ hành
III. Các qui luật của Ngũ hành
Có 4 qui luật hoạt động của Ngũ hành (nói cách khác, có 4 kiểu quan hệ giữa các sự vật hiện tượng), gồm có:
A. Trong điều kiện bình thường:
Có 2 qui luật:
1. Tương sinh (Sinh: hàm ý nuôi dưỡng, giúp đỡ):
Giữa Ngũ hành có mối quan hệ nuôi dưỡng, giúp đỡ, thúc đẩy nhau để vận động không ngừng, đó là quan hệ Tương sinh. Người ta qui ước thứ tự của Ngũ hành Tương sinh như sau: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
Trong quan hệ Tương sinh, mỗi Hành đều có mối quan hệ với hai Hành khác (hai vị trí khác: Cái-Sinh-Nó và Cái-Nó-Sinh). Người hình tượng hóa quan hệ tương sinh cho dễ hiểu bằng hình ảnh quan hệ Mẫu - Tử: chẳng hạn Mộc (Mẹ) sinh Hỏa (Con)… Thí dụ: vận động chân tay (Mộc) làm cho người nóng lên (sinh Hỏa)…
2. Tương khắc (Khắc hàm ý ức chế, ngăn trở):
Giữa Ngũ hành có mối quan hệ ức chế nhau để giữ thế quân bình, đó là quan hệ Tương khắc. Người ta qui ước thứ tự của Ngũ hành Tương khắc như: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.
Trong quan hệ tương khắc, mỗi Hành cũng có quan hệ với hai Hành khác (hjai vị trí khác: Cái-Khắc-Nó và Cái-Nó-Khắc). Người xưa hình tượng hóa quan hệ tương khắc thành quan hệ Thắng – Thua: chẳng hạn Mộc (kẻ thắng) khắc Khổ (kẻ thua). Thí dụ: khi vận động chân tay (Mộc) thì hoạt động của tiêu hóa sẽ giảm đi (khắc Thổ)…
Sơ đồ sau đây do người đời sau trình bày để dễ học hỏi (không hoàn toàn chính xác với ý nghĩa của Ngũ hành).
Sơ đồ : Quan hệ Tương sinh Tương khắc của Ngũ hành (Tương sinh - Tương khắc)
(Trong Thuyết ngũ hành thì:
Kim = tượng trưng cho màu trắng.
Mộc = Xanh lục.
Thuỷ = Đen.
Hoả = Đỏ.
Thổ = Vàng.
Bất cứ hành nào trong ngũ hành cũng đều tương quan với các hành khác theo quan hệ tương sinh hay tương khắc.
Các hành tương sinh và có thể phối hợp với nhau là:
Thủy và Mộc = Đen và Xanh lục.
Mộc và Hoả = Xanh lục và Đỏ.
Hoả và Thổ = Đỏ và Vàng.
Thổ và Kim = Vàng và Trắng.
Kim và Thủy = Trắng và Đen.
Các hành tương khắc và không thể phối hợp là:
Thổ và Thuỷ = Vàng và Đen.
Thủy và Hoả = Đen và Đỏ.
Hoả và Kim = Đỏ và Trắng.
Kim và Mộc = Trắng và Xanh lục.
Mộc và Thổ = Xanh lục và Vàng.)
B. Trong điều kiện bất thường
Có hai qui luật:
Nếu một lý do nào đó phá vỡ sự thăng bằng giữa Ngũ hành với nhau, Ngũ hành sẽ chuyển sang trạng thái bất thường, không còn thăng bằng và hoạt động theo hai qui luật:
1. Tương thừa (Thừa: thừa thế lấn áp):
Trong điều kiện bất thường, Hành này khắc Hành kia quá mạnh, khi đó mối quan hệ Tương khắc biến thành quan hệ Tương thừa. Chẳng hạn: bình thường Mộc khắc Thổ, nếu có một lý do nào đó làm Mộc tăng khắc Thổ, lúc đó gọi là Mộc thừa Thổ. Thí dụ: giận dữ quá độ (Can Mộc thái quá) gây loét dạ dày (Vị Thổ bị tổn hại).
2. Tương vũ (Vũ: hàm ý khinh hờn):
Nếu Hành này không khắc được Hành kia thì quan hệ Tương khắc trở thành quan hệ Tương vũ. Chẳng hạn: bình thường Thủy khắc Hỏa, nếu vì một lý do nào đó làm Thủy giảm khắc Hỏa (nói cách khác: Hỏa “khinh lờn” Thủy) thì lúc đó gọi là Hỏa vũ Thủy. Thí dụ: Thận (thuộc Thủy) bình thường khắc Tâm (thuộc Hỏa), nếu Thận Thủy suy yếu quá không khắc nổi Tâm Hỏa sẽ sinh chứng nóng nhiệt, khó ngủ…
Như vậy, quan hệ bất thường chủ yếu thuộc quan hệ Tương khắc. Có hai lý do khiến mối quan hệ Tương khắc bình thường trở thành quan hệ Tương thừa, Tương vũ bất thường.
(1) Một hành nào đó trở nên thái quá. Thí dụ: Thủy khí thái quá làm tăng khắc Hỏa; đồng thời cũng có thể khinh lờn Thổ.
(2) Một Hành nào đó trở nên bất cập. Thí dụ: Thủy khí bất túc làm Thổ tăng khắc Thủy; đồng thời Thủy cũng bị Hỏa khinh lờn.
Tuy vậy, quan hệ Tương sinh cũng có bất thường, đó là trường hợp Mẫu bệnh cập tử, Tử bệnh phạm mẫu.
IV. Ứng dụng vào một số lãnh vực đời sống
A. Ứng dụng vào việc ăn uống:
- “Trời nuôi người bằng Ngũ khí, Đất nuôi người bằng Ngũ vị”.
- Người ta phân loại thức ăn theo Ngũ hành dựa vào màu sắc, mùi vị mà suy ra tác dụng của món ăn đối với cơ thể. Thí dụ: món ăn chua đi vào Can, ngọt đi vào Tỳ… (bảng 1). Và sau đó áp dụng nguyên tắc ăn uống theo qui luật của Ngũ hành: dùng thức ăn phù hợp với tình hình sức khỏe của mình sao cho duy trì được thế quân bình (đối với người khỏe) hoặc tái lập mối quan hệ quân bình của Ngũ hành trong cơ thể (đối với người đau ốm). Món ăn đầy đủ Ngũ hành thường tồn tại rất lâu phong tục ẩm thực (tô phở, nước mắm…). Tránh tình trạng dùng thái quá một món ăn nào đó vì có thể hại sức khỏe. Thí dụ: ăn quá chua hại Can, quá mặn hại Thận; hoặc khi đang có bệnh về Tỳ (Thổ) nên tránh dùng thức ăn uống chua (Mộc) để tránh làm hại thêm Tỳ Vị (Mộc tăng khắc Thổ).
B. Ứng dụng vào tổ chức công việc, tổ chức sinh hoạt hàng ngày:
Dựa theo tính chất của từng hành trong Ngũ hành: Sinh (Mộc), Trưởng (Hỏa), Hóa (Thổ), Thu (Kim), Tàng (Thủy) và qui luật của Ngũ hành mà tổ chức công việc hợac sinh hoạt thường ngày. Thí dụ:
- Khởi đầu một ngày, công việc luôn có tính chất Mộc cần có thời gian để Sinh. Thí dụ: máy chạy một chút cho trơn máy, người tập thể dục hít thở để khởi động cho một ngày.
- Kế tiếp là Hỏa (Trưởng): đẩy mạnh tiến độ công việc, đây là lúc năng suất công việc cao nhất.
- Công việc có kết quả, có sản sinh ra một cái gì mới mẻ thì công việc mới tồn tại {Thổ (Hóa)}.
- Khi đã có kết quả cần biết thu lại, rút lui từ từ về, nghỉ ngơi dần {Kim (Thu)}.
- Và ẩn, chứa lại, nghỉ ngơi để chuẩn bị cho ngày mới {Thủy (Tàng)}, chuẩn bị cho quá trình Sinh Trưởng Hóa Thu Tàng kế tiếp. Tránh làm ngược lại hoặc làm rối loạn quá trình đó.
Một thí dụ khác: Tổ chức hội họp: trước tiên cần có thời gian cho mọi người chuẩn bị, tập trung (Mộc); sau đó đi vào vấn đề bàn luận (Hỏa); việc bàn luận đó phải đi đến một kết quả, kết quả hữu ích (Thổ); rồi có đúc kết lại vấn đề (Kim), ra quyết định tiến hành công việc và chấm dứt cuộc họp (Thủy). Mối quan hệ của từng giai đoạn nêu trên cũng có Sinh, Khắc, Thừa, Vũ. Việc tiến hành một công việc bất kỳ nào cũng tương tự. Có như vậy công việc mới thành công vì diễn tiến phù hợp với qui luật Ngũ hành.
V. Ứng dụng vào Y học
A. Ứng dụng vào Triệu chứng học:
Căn cứ vào Bảng qui loại của Ngũ hành, người ta phân loại triệu chứng bệnh để xem xét mối quan hệ của các triệu chứng ấy theo qui luật của Ngũ hành. Thí dụ: can có quan hệ với Đởm, chịu trách nhiệm hoạt động của gân cơ (chủ cân), tình trạng công năng của Can thể hiện ra mắt (khai khiếu ra mắt), móng tay móng chân (vinh nhuận ra móng), có liên quan đến tính khí giận dữ… Do đó, co giật, mắt đỏ, móng khô, nóng tính bất thường,… là triệu chứng của Can, vì Đởm, gân cơ, mắt, móng, tính khí giận dữ… tất cả đều cùng thuộc Hành Mộc (xem lại bảng 1).
B. Ứng dụng vào việc phân tích bệnh và chẩn đoán:
- Tạng Phủ được qui vào Ngũ hành (bảng 1). Mối tương quan của Tạng Phủ trong trường hợp bệnh lý được phân tích theo qui luật Tương thừa – Tương Vũ. Thí dụ: bình thường Phế Kim khắc Can Mộc để duy trì sự cân bằng, khi thở quá mức (Phế Thịnh) sẽ gây tê rần và co rút chân tay (Mộc).
- Học thuyết Ngũ hành giúp truy tìm nguyên nhân hay gốc phát sinh bệnh ban đầu. Thí dụ: mất ngủ là chứng của Tâm (Hỏa) có thể do: (1) chính Tâm gây ra, hay (2) do Tạng Sinh nó gây ra: Can (Mộc), hay (3) do Tạng nó Sinh gây ra; Tỳ (Thổ), hay (4) do tạng nó Khắc gây ra; Phế (Kim), hay (5) do Tạng Khắc nó gây ra: Thận (Thủy).
C. Ứng dụng vào việc điều trị bệnh:
Điều trị bệnh chủ yếu dựa vào nguyên tắc: “Con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con”. Thí dụ: Phế yếu (Phế Hư) phải làm mạnh Tỳ Vị lên (Kiện Tỳ) gọi là nguyên tắc Bồi Thổ sinh Kim.
Nguyên tắc này được ứng dụng nhiều nhất trong lãnh vực Châm cứu.
D. Ứng dụng vào việc phân loại, bào chế và sử dụng thuốc:
Người xưa dựa vào màu sắc và mùi vị của thuốc mà phân loại thuốc theo Ngũ hành và từ đó suy ra tác dụng của thuốc đi vào Tạng Phủ tương ứng. Thí dụ: thuốc vị chua, màu xanh đi vào Can, vị ngọt, màu vàng đi vào Tỳ. Người xưa cũng dựa vào Ngũ hành để tìm thuốc mới và bào chế thích hợp để biến đổi tính năng của thuốc. Thí dụ: sao thuốc với giấm để thuốc đi vào Can; sao với đường, mật để vào Tỳ; tẩm muối để đi vào Thận; sao với gừng để vào Phế, sao cho vàng để vào Tỳ, chế cho đen để vào Thận…
Tóm lại, Học thuyết Ngũ hành là học thuyết về mối quan hệ giữa mọi sự vật với nhau. Muốn nghiên cứu bất kỳ một sự vật, một hiện tượng gì luôn phải biết đặt trong mối quan hệ của nó với những sự vật hiện tượng xung quanh nó. Điều quan trọng trong mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng chính là quá trình Sinh và Khắc chứ không phải là con số 5 hoặc cái tên Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy. Đó mới thực sự là tinh thần của Học thuyết Ngũ hành.
Theo: ThS. BS. Lê Hoàng Sơn Nguồn: Dongyvietnam.net
“Life is a reflection of your thoughts. If you change your thinking, you change your life.”
Hummm, can I really change how I look and how people see me by making Feng Shui adjustments? I was curious after finding some articles on Feng Shui for beauty and only found minimal information on it, so I bought several books to learn more about it. It makes sense because we are always reading people’s energy whether we know it or not and Feng Shui beauty is reading people’s energy and reflecting that on the outside. It enhances the energy that is our true beauty.
Enthusiasts of the ancient Chinese art of Feng Shui say happiness and prosperity can be achieved by arranging your home in a certain way, but Feng Shui not just for the house anymore. In fact, the origins of Feng Shui is really the mind-body connection and how we align ourselves to all areas of our lives. People think of magic, superstition or religion when they hear the word Feng Shui but it is not any of those things. It’s about ENERGY and how it affects everything in our lives. Energy (chi) flows in, around and through our bodies every minute of every day. Everything in the world according to Feng Shui belongs to one of the five elements or energies, being fire, earth, metal, water and wood and we can change how it flows by doing certain adjustments. The physical adjustments are not the most important part of Feng Shui, they just give us visible reminders to change how we think consciously and unconsciously.
How we dress, wear make up, or not, wear our hair and the food we eat, have a direct result on our chi and that has a direct impact on how people see and relate to us. If we want to radiate authentic beauty it is important to align and harmonize the flow of our chi. While blood carries oxygen and nutrients, chi carries thoughts, ideas, emotions and dreams. What you think and the way that you think have a great deal of influence on outcomes in our lives. Chi is an energy force that is flavored by our thoughts, emotions and feelings and people around us intuitively pick up on, and base their responses on it.
What are the effects of dis-harmonized chi? Here are three prominent examples.
• Negative chi, caused by excessive light and artificial energy (such as air conditioning), can cause mental and physical exhaustion.
• Strong chi (like that produced by dampness and drafts) can result in two polarized attitudes, depending on the person: either excessive emotion and over-excitement, or depression and lack of direction.
• Fast-flowing chi (which you can feel on very windy days) can make one over talkative and paranoid, fearful of personal attack
Feng Shui Beauty is understanding and enhancing your energy/chi through the five elements. Billy Yamaguchi pioneered the concept of applying the principles of these elements to your hair, makeup and personal lifestyle. According to Yamaguchi, all five elements are present in everyone but two elements are usually dominate.
If you were to consult a beauty Feng Shui practitioner they would the would look at the sum of your parts; spiritual, mental and physical, to create a wardrobe that is fulfilling, fortifying, flattering and functional. As long as we are going with all the ‘f’s’ lets add Fun to the mix. They might use the Transformational Triad.

The Transformational Triad concept leads us to balance our essence with our intention that changes over time to create a harmonious appearance.
-
Essential Energy (ESSENCE) is unconsciously expressed. It is the energetic lens through which you see the world, the assimilation of your core (driving force), character (emotional nature), and conduct (way of being) – the unique “essence”… that is you.
-
Intentional Energy (INTENTION) is consciously created. It is the energy attached to what you have “in mind” to be, do and have.
-
Visual Energy (APPEARANCE) is physically transmitted. It is the vibrational pattern created by “how you look,” influenced by the energies inherent in your physical coloring and body shape, and the colors, patterns, textures, fabrics and silhouettes of the clothes you wear.
It makes sense to me that if we look at our self from this prospective and enhance our inherent strengths we will project more of our authentic beauty. It sounds like a fun thing to experiment with to see if anyone notices.
Ý NGHĨA BẦU HỒ LÔ LIÊN HOA
TRONG PHONG THỦY
Quả bầu Hồ Lô có hình dáng thật thú vị, miệng nhỏ mà bụng thật to được sử dụng nó làm đồ chứa đựng, đựng nước, đựng rượu, lại dùng để cất giữ linh đan diệu dược. Trong hiệu Y Dược người ta thường hay trưng bày một quả hồ lô đại. Thái Thượng Lão Quân trong phim Tây Du Ký luyện tiên đan bằng pháp bảo "Tế Thế Hồ Lô" trong suốt mấy vạn năm khiến cho pháp bảo này trở thành một Thượng Cổ Kỳ Vật có khả năng hấp thụ tinh hoa, gia tăng nội lực. Họ hường hay dùng Hồ Lô tu luyện hấp thụ tinh khí trời đất thành bảo bối để chiến thắng đối thủ
Nói về công dụng, Bầu Hồ lô không chỉ để ăn, trị bệnh như một loại thảo dược giải mát gan hay làm bình đựng nước, đựng rượu. Nó còn là một chiếc thuyền eo nổi tự nhiên giúp trẻ em học bơi và là bè nổi cứu sinh khi có thủy lụt. Người ta còn dùng nó để làm nhạc cụ, làm đèn trang trí hay dùng dây hoàng kim nối 1 cặp hồ lô làm vũ khí hộ mệnh hóa giải vật nhọn tấn công (song bích hồ lô)… Nó còn có các công hiệu vô cùng Thần Bí khác trong Phong thủy học:
1. Các bậc Tiên Hiền đã sớm phát hiện Hồ Lô giúp tiêu tai và hóa giải bệnh tật. Phàm trong nhà mà thường có người bị bệnh, có thể treo Pháp khí này, có thể trợ giúp mau lành bệnh, nam nữ già trẻ đều dùng được. Nếu như bạn không có nhiều kiến thức về Phong Thủy thì dùng Hồ lô treo ở đầu giường của bệnh nhân, thì sẽ nhanh có hiệu quả. Nếu cần có thể đọc trong các sách về Phong Thủy hoặc nhờ Phong Thủy Sư tính giúp cho phương vị Thiên y hoặc Diên Niên để treo thì kết quả rất tốt cho tất cả các thành viên trong gia đình. Bệnh lớn hóa nhỏ, bệnh nhỏ sẽ tiêu tan hết, tinh thần được sảng khoái.
2. Nếu mang bầu hồ lô để dưới ánh mặt trời giao thoa với ánh mặt trăng vào buổi sáng sớm trong 2 ngày 14-15 Âm lịch (ngày Rằm) hàng tháng thì nó sẽ hút được rất nhiều sinh khí của Trời Đất, tỏa ra khi mang vào nhà cho những người già hay người bệnh ít đi ra ngoài được thụ hưởng.
3. Trong nhà nếu vợ chồng bạc duyên, có thể treo thử 2 cái Hồ Lô bầu Âm Dương ở đầu giường, có thể sẽ nối lại sợi dây tình cảm, có khi đem lại những cảm xúc ngọt ngào như thời mới yêu nhau.
4. Bởi vì quả bầu hồ lô có nhiều hạt và mọc dạng dây leo nên nó cũng có ý nghĩa sinh sôi nảy nở của dòng giống đi kèm cho nên nhà hiếm muộn con cái nên treo 1 cái bầu hồ lô Âm Dương sẽ may mắn thụ thai sinh được quý tử.
5. Trong Huyền Không Phong Thủy, Nhị Hắc và Ngũ Hoàng là hai sao mang đến nhiều bệnh tật, nếu nó bay vào cửa rồi làm cho chủ nhà nhiều khi vô duyên vô cớ bị bệnh tật tai họa, đây chính là lúc phát huy tác dụng hóa giải và trấn trạch to lớn của 5 anh em Hồ Lô Ngũ Hành (trắng-Kim, xanh lá-Mộc, xanh dương-Thủy, đỏ/hồng-Hỏa, vàng-Thổ). Tại nhà của bạn bên phía Tây treo một cái Hồ lô, có thể sẽ hỗ trợ cho việc học Dịch của bạn. “Tuyết Tâm Phú” có nói : “Hồ Lô xuất hiện, Thuật Sĩ Y Lưu” tức nói xung quanh nhà có sơn sa hình như Hồ lô thì trong nhà xuất hiện Y sư Thuật Sĩ cao minh.
Sản phẩm hồ lô bầu liên hoa này của Britneyvietnam.com thật đẹp và độc đáo khi được họa sĩ vẽ thủ công hoa sen hồng nở rộ bao lấy bụng bầu chứa đựng bầu sinh khí dồi dào vốn là biểu tượng của Mẹ đất kết hợp với các họa tiết ngôi sao, mặt trăng, mặt trời trên thân bầu vốn là biểu tượng của Cha trời. Được trang trí với các tên gọi khác nhau như Bảo Mệnh Hồ lô (Hồ lô sức khỏe) Như Ý Cát tường Hồ lô (Hồ lô may mắn) Kim Bảo Hồ lô (hồ lô thu tài lộc)…cho các mục đích sử dụng trong phong thủy khác nhau.
Từ bao đời nay hoa sen đã trở thành một hình tượng đặc biệt trong văn hóa của người Việt Nam. Trên khắp những nẻo đường ở thôn quê Việt Nam bạn có thể dễ dàng nhìn thấy những đầm hoa sen rộng, xanh và hồng thắm sắc lá, hoa. Hoa sen đã đi vào lòng người Việt, vì thế, khi ngắm hoa bạn sẽ như nhận ra hình ảnh con người Việt Nam – giản dị, hiếu hòa và sáng trong. Trong Phật giáo phương Đông nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng thì hoa sen đã trở thành biểu tượng của vẻ đẹp thần bí, huyền ảo và sâu kín, tái sinh trên đài sen cõi Phật “Liên hoa vi phụ mẫu”. Hoa nở tượng trưng cho quá khứ, đài sen tượng trưng cho hiện tại và hạt sen tượng trưng cho tương lai, sự nối tiếp liên tục. Sen thơm, hương dịu dàng, thuần khiết thật sự là biểu trưng tiêu biểu nhất cho văn hóa và con người Việt Nam. Trong Phong Thủy, hoa sen tượng trưng cho sự thanh cao, thoát tục, viên mãn cuối cùng!
Sử dụng hồ lô bầu liên hoa phong thủy có tác dụng điều hoà khí vượng, tăng cường những nguồn năng lượng về sức khoẻ cho ngôi nhà, giúp gia chủ gỡ bỏ mọi ưu phiền, để tĩnh tâm, an hưởng hạnh phúc. Như vậy bạn đã có thể sở hữu một trong những vật khí phong thủy có ý nghĩa nhất mang tính thẩm mỹ để treo trong nhà, làm quà tặng cho người thân, bè bạn, thầy cô, đồng nghiệp và các đồi tác kinh doanh thích hợp với hầu hết mọi dịp như thôi nôi, mừng thọ, mừng khai trương, mừng tân gia, mừng cưới hỏi...rất hiếm có và độc đáo!
Xem sản phẩm bầu hồ lô liên hoa của Britneyvietnam.com ở đây: http://britneyvietnam.com/vi/phong-thuy/vat-khi-phong-thuy/156-bau-ho-lo-lien-hoa.html
Forum link: http://www.britneyvietnam.com/forum/viewtopic.php?f=13&t=40
Ý NGHĨA LỒNG ĐÈN TRONG PHONG THỦY
Đèn lồng là 1 nét phổ biến trong văn hóa châu Á. Tất cả các nhà hàng Trung Quốc đều treo đèn lồng trên trần nhà. Những chiếc đèn lồng với cách trang trí đơn giản thực sự đóng 1 vai trò quan trọng trong phong thủy.
Thay cho những chùm đèn thủy tinh to lớn, rườm rà để trang trí cho các phòng chức năng trong một ngôi nhà, hiện tại nhiều nhà thiết kế cũng như các chủ nhà thường thay vào đó những cái đèn lồng. Không chỉ hợp với những ngôi nhà có mang hơi hướm cổ điển, nhiều kiểu đèn lồng tuy cũng được làm bằng chất liệu mây tre, vải, tơ tằm... vẫn thích hợp với những không gian nội thất sang trọng hoặc hiện đại nhờ sự kết hợp khéo léo giữa các kiểu dáng và màu sắc. Không chỉ trang trí ở phòng khách, đèn lồng còn rất thích hợp để trang trí cho các phòng ngủ, phòng ăn cũng như làm đẹp cho các góc nhà, bàn trang trí, kệ tủ...
Mau chóng bắt nhịp thời đại, thời gian gần đây còn có rất nhiều dạng đèn lồng trang trí được “chế biến” từ nhiều chất liệu khác như nhựa, thủy tinh.... Nhưng dù có cách tân đến chừng nào thì hình ảnh cái đèn lồng vải vẫn dễ làm người ta nhớ về hình ảnh cái lồng đèn nan tre, phủ giấy đơn sơ nơi quê nhà, khung cửa chùa, mái đình xưa... nhất là trong những dịp xuân về như thế này...
Đèn lồng mang lại năng lượng tích cực
Vị trí đặt đèn rất quan trọng trong phong thủy. Đặt đúng chỗ sẽ có tác dụng thúc đẩy sự hài hòa, tăng cường năng lượng, tạo sự cân bằng về mặt sức khỏe. Trong phòng ngủ, ánh sáng rực rỡ phát ra từ đèn lồng có tác dụng tạo ra năng lượng dương, đồng thời giúp cân bằng trường khí. Chú ý, đặt đèn ở 2 bên giường là tốt nhất.
Đèn lồng giúp hôn nhân hạnh phúc
Trong phong thủy có sự phân chia 2 thái cực, do đó việc sử dụng các vật thể thành đôi thành cặp rất phổ biến và đạt hiệu quả. Đặt 2 chiếc đèn lồng bằng giấy đỏ (cả 2 đều sáng) ở 2 bên giường cũng có tác dụng giữ cho hôn nhân hạnh phúc, bền lâu. Điều bắt buộc là đèn phải cùng được thắp sáng và cùng tắt đồng thời. Bằng cách này, 2 chiếc đèn sẽ có sự cộng sinh và trở thành biểu tượng của hôn nhân, với sự hòa hợp giữa nam và nữ. Tối kỵ thắp sáng 1 chiếc đèn, vì như vậy sẽ không tạo ra dòng năng lượng có ích giữa cặp đôi.
Đèn lồng giúp tăng khả năng sinh sản
Gặp khó khăn trong việc mang thai là điều vô cùng mệt mỏi và chán nản đối với không ít người. Có người không chỉ dựa vào bác sĩ và phòng khám sản để đậu con mà họ còn tin vào các biện pháp phong thủy. Treo đèn lồng đỏ là 1 ví dụ. Họ tin rằng, treo đèn lồng bằng giấy màu đỏ ở 2 bên giường giúp họ mau có em bé. Rất nhiều người còn treo 1 chiếc trực tiếp phía trên giường. Áp dụng phong thủy vào việc thụ thai sẽ khiến các bà mẹ giảm được stress, thoải mái hơn và cải thiện sức khỏe. Sự thoải mái có thể giúp họ dễ có con hơn. Treo đèn lồng đỏ không phải là biện pháp thần kì nhưng nó có tác dụng tạo nên sự hài hòa cho ngôi nhà và cho các cặp vợ chồng trong cuộc sống.
Tặng đèn lồng dịp lễ tết

Đối với người Trung Quốc, đèn lồng chính là vật thể xua đuổi tà ma và đem lại hạnh phúc cho người dân. Vì thế họ chọn đèn lồng đỏ đón xuân và coi đây là món quà tốt đáng quý đem tặng bạn bè, người thân. Việc đón tết đối với Trung Quốc sẽ không trọn vẹn nếu thiếu chiếc đèn lồng, vì thế ngay từ thời điểm gần tết hình ảnh rực rỡ của đèn lồng đỏ đã xuất hiện ở khắp nơi. Những chiếc đèn rực rỡ không chỉ được treo ở nơi công cộng mà người dân còn mua về để trang trí cho ngày Tết.
Trước dịp Tết nguyên đán, gia đình nhà mẹ tặng gia đình con gái hoặc người bạn thân tặng cho gia đình trẻ chưa sinh con những chiếc đèn lồng để thêm may mắn. Tập tục này diễn ra ở rất nhiều nơi, có nơi tặng đèn vào đầu hoặc giữa tháng 8, đầu năm tặng một đôi đèn cung, đèn thủy tinh nhiều màu sắc với hy vọng con gái sau khi kết hôn sẽ sớm sinh quý tử. Khi người con gái mang thai, ngoài đèn hình cung ra còn tặng nhiều loại đèn khác để cầu chúc con gái mang thai bình yên.
Tặng đèn lồng vào tết nguyên đán là tập quán của dân tộc Hán, đây có thể cho là tập tục hay mang nhiều ý nghĩa.
Ngày tết nguyên đán, nhà nhà đều dùng các loại bột để tạo nên những chiếc đèn lồng với đủ các hình dạng, như đèn bát hay các loại giống như đèn trời. Người làm đèn lồng thường viết các câu đối lên một mảnh giấy và dán chúng lên đèn.
Sau khi làm xong những loại đèn này, đợi trước khi mặt trời xuống bắt đầu thắp đèn. Trước tiên là thắp đèn vị trí tổ tiên linh thiêng để cầu bình an hạnh phúc cho gia đình, tiếp đó đem đi cúng thần đất để cầu thần núi ban phước cho gia đình, rồi đem đến kho dự trữ để cầu thóc lúa gạo luôn đầy nhà, cuối cùng đem đến cầu ở những con đường lớn để cầu thượng lộ bình an. Thắp đèn trước nấm mồ không thể dùng củi lửa, mọi người cho rằng mượn lửa thắp đèn cũng có nghĩa là gia đình đó khó khăn gặp trắc trở. Vì thế chủ yếu dùng các loại đèn kim không thắp lửa để cầu tổ tiên ở cõi âm phú quý giàu có.
Con gái sau khi được gả đi, mẹ đẻ thường tặng đèn lồng cho con gái và con rể, nếu con gái đã mang thai thì phải tặng một đôi đèn để cầu hạnh phúc bình yên cho con gái. Ở một số nơi, người mẹ tặng cho con gái những chiếc đèn lồng vào mùa đông đầu tiên để tránh cái lạnh gió rét.
Trước hết, xác định tuổi qua năm tháng ngày sinh để tính toán cung hướng mạng cho từng người. Mỗi người đều có năm, tháng, ngày, giờ sinh của mình. Và mỗi năm đều có một sao quản vận. Sao quản vận chiếu mạng (theo Tam nguyên cửu vận) thì con người mang trường sinh mạng của sao đó. Theo hình đồ 9 sao phối 8 cung hướng của Bát quái (trùng với từ trường Nam Bắc của Trời - Đất và chia ra 8 hướng chính). Mỗi cung hướng mang một thuộc tính ngũ hành khác nhau. Hệ sóng từ quy nạp vào 9 sao cũng tồn tại, luôn luân chuyển, thay đổi vị trí theo một quỹ đạo nhất định. Chín ngôi sao đó được mang tính chất khí với thuộc tính ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ (theo Tử vi. Mỗi người còn được đặt vào một cung hướng nhất định của Bát quái đồ gọi cung mạng: Có mạng Càn, mảng Khảm, mạng Cấn, mạng Chấn, mạng Tốn, mạng Ly, mạng Khôn, mạng Đoài. Tính từ năm sinh tra bảng (Tra bảng ) ta sẽ biết được cung mạng của mỗi người nằm trong cung hướng nào.
1. Hướng Tây-Bắc, cung Càn thuộc Kim
2. Hướng Bắc, cung Khảm thuộc Thuỷ
3. Hướng Đông-Bắc, cung Cấn thuộc Thổ
4. Hướng Đông, cung Chấn thuộc Mộc
5. Hướng Đông-Nam, cung Tốn thuộc Mộc
6. Hướng Nam, cung Ly thuộc Hoả
7. Hướng Tây-Nam, cung Khôn thuộc Thổ
8. Hướng Tây, cung Đoài thuộc Kim
|
Năm sinh
|
Cung mạng
|
Nam
|
Nữ
|
|
1920
|
Canh Thân
|
Cấn
|
Đoài
|
|
1921
|
Tân Dậu
|
Đoài
|
Cấn
|
|
1922
|
Nhâm Tuất
|
Càn
|
Ly
|
|
1923
|
Quý Hợi
|
Khôn
|
Khảm
|
|
1924
|
Giáp Tý
|
Tốn
|
Khôn
|
|
1925
|
Ất Sửu
|
Chấn
|
Chấn
|
|
1926
|
Bính Dần
|
Khôn
|
Tốn
|
|
1927
|
Đinh Mão
|
Khảm
|
Cấn
|
|
1928
|
Mậu Thìn
|
Ly
|
Càn
|
|
1929
|
Kỷ Tỵ
|
Cấn
|
Đoài
|
|
1930
|
Canh Ngọ
|
Đoài
|
Cấn
|
|
1931
|
Tân Mùi
|
Càn
|
Ly
|
|
1932
|
Nhâm Thân
|
Khôn
|
Khảm
|
|
1933
|
Quý Dậu
|
Tốn
|
Khôn
|
|
1934
|
Giáp Tuất
|
Chấn
|
Chấn
|
|
1935
|
Ất Hợi
|
Khôn
|
Tốn
|
|
1936
|
Bính Tý
|
Khảm
|
Cấn
|
|
1937
|
Đinh Sửu
|
Ly
|
Càn
|
|
1938
|
Mậu Dần
|
Cấn
|
Đoài
|
|
1939
|
Kỷ Mão
|
Đoài
|
Cấn
|
|
1940
|
Canh Thìn
|
Càn
|
Ly
|
|
1941
|
Tân Tỵ
|
Khôn
|
Khảm
|
|
1942
|
Nhâm Ngọ
|
Tốn
|
Khôn
|
|
1943
|
Quý Mùi
|
Chấn
|
Chấn
|
|
1944
|
Giáp Thân
|
Khôn
|
Tốn
|
|
1945
|
Ất Dậu
|
Khảm
|
Cấn
|
|
1946
|
Bính Tuất
|
Ly
|
Càn
|
|
1947
|
Đinh Hợi
|
Cấn
|
Đoài
|
|
1948
|
Mậu Tý
|
Đoài
|
Cấn
|
|
1949
|
Kỷ Sửu
|
Càn
|
Ly
|
|
1950
|
Canh Dần
|
Khôn
|
Khảm
|
|
1951
|
Tân Mão
|
Tốn
|
Khôn
|
|
1952
|
Nhâm Thìn
|
Chấn
|
Chấn
|
|
1953
|
Quý Tỵ
|
Khôn
|
Tốn
|
|
1954
|
Giáp Ngọ
|
Khảm
|
Cấn
|
|
1955
|
Ất Mùi
|
Ly
|
Càn
|
|
1956
|
Bính Thân
|
Cấn
|
Đoài
|
|
1957
|
Đinh Dậu
|
Đoài
|
Cấn
|
|
1958
|
Mậu Tuất
|
Càn
|
Ly
|
|
1959
|
Kỷ Hợi
|
Khôn
|
Khảm
|
|
1960
|
Canh Tý
|
Tốn
|
Khôn
|
|
1961
|
Tân Sửu
|
Chấn
|
Chấn
|
|
1962
|
Nhâm Dần
|
Khôn
|
Tốn
|
|
1963
|
Quý Mão
|
Khảm
|
Cấn
|
|
1964
|
Giáp Thìn
|
Ly
|
Càn
|
|
1965
|
Ất Tỵ
|
Cấn
|
Đoài
|
|
1966
|
Bính Ngọ
|
Đoài
|
Cấn
|
|
1967
|
Đinh Mùi
|
Càn
|
Ly
|
|
1968
|
Mậu Thân
|
Khôn
|
Khảm
|
|
1969
|
Kỷ Dậu
|
Tốn
|
Khôn
|
|
1970
|
Canh Tuất
|
Chấn
|
Chấn
|
|
1971
|
Tân Hợi
|
Khôn
|
Tốn
|
|
1972
|
Nhâm Tý
|
Khảm
|
Cấn
|
|
1973
|
Quý Sửu
|
Ly
|
Càn
|
|
1974
|
Giáp Dần
|
Cấn
|
Đoài
|
|
1975
|
Ất Mão
|
Đoài
|
Cấn
|
|
1976
|
Bính Thìn
|
Càn
|
Ly
|
|
1977
|
Đinh Tý
|
Khôn
|
Khảm
|
|
1978
|
Mậu Ngọ
|
Tốn
|
Khôn
|
|
1979
|
Kỷ Mùi
|
Chấn
|
Chấn
|
|
1980
|
Canh Thân
|
Khôn
|
Tốn
|
|
1981
|
Tân Dậu
|
Khảm
|
Cấn
|
|
1982
|
Nhâm Tuất
|
Ly
|
Càn
|
|
1983
|
Quý Hợi
|
Cấn
|
Đoài
|
|
1984
|
Giáp Tý
|
Đoài
|
Cấn
|
|
1985
|
Ất Sửu
|
Càn
|
Ly
|
|
1986
|
Bính Dần
|
Khôn
|
Khảm
|
|
1987
|
Đinh Mão
|
Tốn
|
Khôn
|
|
1988
|
Mậu Thìn
|
Chấn
|
Chấn
|
|
1989
|
Kỷ Tỵ
|
Khôn
|
Tốn
|
|
1990
|
Canh Ngọ
|
Khảm
|
Cấn
|
|
1991
|
Tân Mùi
|
Ly
|
Càn
|
|
1992
|
Nhâm Thân
|
Cấn
|
Đoài
|
|
1993
|
Quý Dậu
|
Đoài
|
Cấn
|
|
1994
|
Giáp Tuất
|
Càn
|
Ly
|
|
1995
|
Ất Hợi
|
Khôn
|
Khảm
|
|
1996
|
Bính Tý
|
Tốn
|
Khôn
|
|
1997
|
Đinh Sửu
|
Chấn
|
Chấn
|
|
1998
|
Mậu Dần
|
Khôn
|
Tốn
|
|
1999
|
Kỷ Mão
|
Khảm
|
Cấn
|
|
2000
|
Canh Thìn
|
Ly
|
Càn
|
|
2001
|
Tân Tỵ
|
Cấn
|
Đoài
|
|
2002
|
Nhâm Ngọ
|
Đoài
|
Cấn
|
|
2003
|
Quý Mùi
|
Càn
|
Ly
|
|
2004
|
Giáp Thân
|
Khôn
|
Khảm
|
|
2005
|
Ất Dậu
|
Tốn
|
Khôn
|
|
2006
|
Bính Tuất
|
Chấn
|
Chấn
|
|
2007
|
Đinh Hợi
|
Khôn
|
Tốn
|
|
2008
|
Mậu Tý
|
Khảm
|
Cấn
|
|
2009
|
Kỷ Sửu
|
Ly
|
Càn
|
|
2010
|
Canh Dần
|
Cấn
|
Đoài
|
|
--------------------------------
|
------------------------------------
|
--------------------------
|
--------------------------
|
Cùng năm sinh nhưng do hấp thụ trường khí Đất – Trời của sinh thể nam và nữ khác nhau. Nên có các cung mạng và đặc tính con người nam nữ cũng khác nhau, phần nhiều là đối nghịch nhau.
Thứ hai, phân nhóm cung hướng và cung mạng. Trong 8 hướng của cung Bát quái đồ chia ra hai nhóm là Đông tứ hướng và Tây tứ hướng. Đông tứ hướng gồm có hướng Bắc (cung Khảm), hướng Đông (cung Chấn), hướng Đông – Nam (cung Tốn), hướng Nam (cung Ly). Nhà có cửa chính mở về 4 hướng trên gọi là nhà Đông tứ trạch. Cung mạng ai nằm trong 4 cung trên thuộc nhóm Đông tứ mạng và trường khí của 4 cung hướng là hợp tốt. Tây tứ hướng gồm có 4 hướng Tây – Bắc (cung Càn), hướng Tây (cung Đoài), hướng Tây – Nam (cung Khôn) và hướng Đông – Bắc (cung Cấn). Nhà có cửa chính mở về 4 hướng này gọi là nhà Tây tứ trạch. Cung mạng ai nằm trong 4 cung trên thuộc nhóm Tây tứ mạng và hợp tốt ở 4 hướng này. Như vậy, người thuộc nhóm Đông tứ mạng hợp với nhà Tây tứ trạch (Tây tứ hướng) đều được hưởng từ trường tốt, gọi là hợp hướng và tạo được nhiều điều thuận lợi cho sức khoẻ và tốt lành trong cuộc sống. Ngược lại, người Đông tứ mạng ở nhà Tây tứ trạch và người Tây tứ mạng ở nhà Đông tứ trạch gọi là trái hướng, thì ắt sẽ xảy ra sự xung khắc, bởi từ trường cung hướng với cung mạng khắc nhau sẽ xảy ra sự không tốt đẹp cho sức khoẻ, không thuận lợi cho công việc, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và sự phát triển lâu dài.
Với Bát quái đồ chia theo 8 cung hướng trùng hợp với từ trường cung hướng Trái đất, nhà mở cửa hướng theo 8 cung đó gọi chung là bát trạch. Mỗi trạch đều mang một thuộc tính ngũ hành khác nhau là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Cung mạng của mỗi người nằm ở cung hướng nào thì cũng mang đặc tính từ trường và ngũ hành ở cung hướng đó. Do đó, sự phối hợp cung mạng với các cung hướng khác, với 8 hướng của bát trạch thì sẽ xảy ra 8 trường hợp xung khắc và hoà hợp khác nhau (gọi là bát san phối mạng). Bát san tốt là: Sinh khí, Diên niên, Thiên y, Phục vị. Bát san xấu là: Tuyệt mạng, Ngũ quỷ, Lục sát, và Hoạ hại.
Người cung mạng Càn (Tây-Bắc)
Phục vị Tây–Bắc
Lục sát Bắc
Thiên y Đông–Bắc
Sinh Khí Tây
Ngũ quỷ Đông
Diên niên Tây–Nam
Tuyệt mạng Nam
Đông–Nam Hoạ hại
Người cung mạng Khảm (chính Bắc)
Lục sát Tây–Bắc
Phục vị Bắc
Ngũ quỷ Đông–Bắc
Hoạ hại Tây
Thiên y Đông
Tuyệt mạng Tây–Nam
Diên niên Nam
Sinh Khí Đông–Nam
Người cung mạng Cấn (Đông-Bắc)
Thiên y Tây–Bắc
Ngũ quỷ Bắc
Phục vị Đông–Bắc
Diên niên Tây
Lục sát Đông
Sinh Khí Tây–Nam
Hoạ hại Nam
Tuyệt mạng Đông–Nam
Người cung mạng Chấn (Đông)
Ngũ quỷ Tây–Bắc
Thiên y Bắc
Lục sát Đông–Bắc
Tuyệt mạng Tây
Phục vị Đông
Hoạ hại Tây–Nam
Sinh Khí Nam
Diên niên Đông–Nam
Người cung mạng Tốn (Đông-Nam)
Hoạ hại Tây–Bắc
Sinh Khí Bắc
Tuyệt mạng Đông–Bắc
Lục sát Tây
Diên niên Đông
Ngũ quỷ Tây–Nam
Thiên y Nam
Phục vị Đông–Nam
Người cung mạng Ly (Nam)
Tuyệt mạng Tây–Bắc
Diên niên Bắc
Hoạ hại Đông–Bắc
Ngũ quỷ Tây
Sinh Khí Đông
Lục sát Tây–Nam
Phục vị Nam
Thiên y Đông–Nam
Người cung mạng Khôn (Tây-Nam)
Diên niên Tây–Bắc
Tuyệt mạng Bắc
Sinh Khí Đông–Bắc
Thiên y Tây
Hoạ hại Đông
Phục vị Tây–Nam
Lục sát Nam
Ngũ quỷ Đông–Nam
Người cung mạng Đoài (Tây)
Sinh Khí Tây–Bắc
Hoạ hại Bắc
Diên niên Đông–Bắc
Phục vị Tây
Tuyệt mạng Đông
Thiên y Tây–Nam
Ngũ quỷ Nam
Lục sát Đông–Nam
Mỗi bát sát phối mạng và hướng đều tạo ra một từ trường khí, có sự tác động tương hỗ, có tốt, có xấu.
Các khí tốt gồm có:
Sinh khí: Chủ việc vượng tốt cho con người, có lợi cho người con trai, lợi cho danh tiếng, tạo ra được sức sống dồi dào cho con người, mọi sự việc luôn luôn sinh sôi nảy nở, tính dục mạnh mẽ.
Nếu Sinh khí ở vào khu vệ sinh, phòng kho đồ vặt thì xảy ra thất nghiệp, đẻ non, nhiều bệnh tật.
Thiên y: Chủ về sức khoẻ tốt, lợi cho phụ nữ, vượng tài lộc, tiêu trừ bệnh tật, tâm tính ổn định, có giấc ngủ ngon lành, thường có quý nhân bên ngoài giúp đỡ, luôn luôn đổi mới.
Nếu Thiên y ở vào khu vệ sinh, phòng kho đồ lặt vặt sẽ mắc bệnh kinh niên, chứng ung thư.
Diên niên: Hoà thuận, tốt cho sự nghiệp và ngoại giao, với các mối quan hệ khác; vợ chồng thuận hoà, tuổi thọ tăng thêm, bớt kẻ kình địch, tính tình hoà dịu, kiên trì, tăng sức thuyết phục; với nữ giới có bạn đời tốt.
Nếu Diên niên ở vào khu vệ sinh, phòng kho đồ vặt: xảy ra cãi vã thị phi, nhà cửa không yên ổn.
Phục vị: Bình yên, trấn tĩnh, có lợi để ban thờ. Vững vàng cho chủ nhà, tình duyên nam nữ gắn bó; khả năng kiếm ra tiền tốt; quan hệ gia đình với cha, mẹ, vợ, con tốt, nhưng tính dục sẽ giảm sút.
Nếu nơi Phục vị có khu vệ sinh, phòng kho đồ vặt thì tính tình gia chủ nóng nảy, luôn luôn cảm thấy mất yên ổn.
Các khi xấu bao gồm:
Tuyệt mạng: ở vào cung Tuyệt mạng là khu vệ sinh, phòng kho đồ vặt thì chủ nhà sẽ có sức khoẻ tốt, tuổi thọ tăng thêm, duyên phận con cái tốt, có tài vận.
Nếu cung Tuyệt mạng ở vị trí tốt: Chủ nhân mắc chứng bệnh khó chữa, mổ xẻ, bị đao thương, đụng xe, mất trộm, trong người cảm thấy không yên ổn, mọi việc đều tính toán quá đáng, buồn phiền, đau khổ, u sầu, nói ít, bị ức chế sinh bệnh tâm thần, duyên phận con cái bạc bẽo.
Ngũ quỷ: Cung Ngũ quỷ là buồng vệ sinh, phòng kho đồ vật thì có thể biến điều xấu thành điều tốt đẹp.
Nếu Ngũ quỹ ở vào vị trí tốt (cửa ra vào, buồng ngủ và bếp) thì các sự việc lôi thôi và tai hoạ vô cớ ập đến; người nhà mổ xẻ, ung thư; tai tiếng thị phi; mất trộm; phá sản; quan tai, người nhà đau yếu liên miên; đề phòng hoả hoạn.
Lục sát: Cung Lục sát ở buồng vệ sinh, phòng kho đồ vặt thì người trong nhà có những suy nghĩ đúng đắn, có số đào hoa và có lợi cho tình duyên.
Nếu Lục sát ở vào các vị trí tốt thì tình duyên sẽ tráo trở, người ở không yên, vợ chồng thường cãi vã lẫn nhau, trong người phiền não, lắm điều thị phi, mất ngủ, sự nghiệp trắc trở. Riêng với nam giới thì không lo làm ăn, hay rượu chè, cờ bạc.
Hoạ hại: Cung Hoạ hại ở buồng vệ sinh, phòng kho đồ vặt thì người trong nhà yên ổn, hoà thuận, sức khoẻ tốt đẹp, làm việc tự tin hơn, hoà nhã với người ngoài, không xảy ra quan sự, tài vận tốt.
Nếu Hoạ hại ở vào các vị trí tốt thì trong nhà thường gây chia rẽ, quan tai. Tiểu nhân, tai tiếng thị phi, mệt mỏi bởi những việc vụn vặt, cơ thể suy nhược, mất tự tin, rời rạc, thường gây gổ, thưa kiện với người ngoài, thất tài, nhiều bệnh tật.
Đây là một vấn đề quan trọng nhất mà mọi người rất quan tâm, mà cũng là cách giải bài toán hoán cải số phận một cách thông minh, sáng suốt và chính xác nhất. Bạn sẽ đạt được sự hanh thông từng ngày khi dùng viên đá quý hợp mệnh:
“Từ ngày tậu đá đến nay, Cuộc sống thay đổi từng ngày, bạn ơi!”
Về Cung Sinh và Cung Phi:
Đã từ lâu, người ta cứ đem Sinh mệnh của mình ra để tìm màu sắc cho hợp ngũ hành tương sinh, tương khắc. Kết quả là rất nhiều người không được hanh thông như mong muốn, dẫn đến họ mất niềm tin vào quy luật.
Thực ra, muốn giải bài toán cuộc đời đó, họ đã đưa dữ liệu sai ngay từ ban đầu, nên điều đương nhiên xảy ra, là kết quả bài toán sẽ sai!
Khi nằm trong bụng Mẹ, ta chỉ có hình hài, tức là phần CON mà thôi.
Chỉ khi Cha Trời, Mẹ Đất cho phép, một chân linh được đầu thai vào thể xác ấy, ta mới có phần HỒN. (Con người = CON + NGƯỜI).
Như vậy ta có hai loại Mệnh chính là: Sinh Mệnh và Cung Mệnh. (Còn các phần khác, tôi không đề cập đến ở đây)
Sinh mệnh tính lúc ta ra đời, thường để xem Tử vi, tướng pháp. Nhưng ta chỉ được sinh ra có một lần trong đời. Và ra đời rồi, thì dù Sinh mệnh như nhau, nhưng Trai thì 7 vía, Gái lại 9 vía cơ. Cha mẹ khác nhau, vợ chồng khác nhau, con cái khác nhau, hướng nhà khác nhau, địa lý khác nhau…, khiến cho Mệnh mỗi người có biến động, thay đổi, gọi là CUNG PHI, tức là sự phát triển.
Ta được Cha Trời cho Sinh Mệnh.
Ta được Mẹ Đất bao bọc, yêu thương bởi Bát Quái. Ấy là Cung Sống của chúng ta.
Đem Sinh Mệnh, làm dữ liệu để giải bài toán Cung Mệnh, là đã sai ngay từ đầu rồi. Cho nên kết thúc, đáp số sai là lẽ đương nhiên.
Đôi khi, cũng có người đạt hiệu quả, vì vô tình mà rơi vào người có Mệnh Sinh và Mệnh Sống trùng nhau. Ví dụ: Nữ sinh năm 1992: Sinh mệnh là Kiếm Phong Kim, Cung Mệnh là Đoài, hướng chính Tây, hành Kim, màu trắng. Vậy là cả 2 thứ Mệnh đều là KIM, nên tuy có nhầm sinh mệnh, nhưng vẫn đạt hiệu quả, vì Cung mệnh cũng là Kim.
Nhưng đó chỉ là số ít, còn đại đa số vẫn bị lầm lẫn!
Tại sao vậy?
Cung phi bát trạch chính thức rất quan trọng trong thuật Phong Thuỷ, sử dụng rất đa dạng như: cưới gả. định phương hướng, tu tạo nhà cửa, bếp núc, mồ mả cho đúng Cát Phước, Hung họa…
Từ lâu, Cung phi không được chân truyền, nên người ta dùng lầm Cung sinh mới sai lầm và mất dần sự tin tưởng.
Chính vì vậy, để trả lại đúng vị trí tự nhiên vốn có của nó, ta hãy dùng cung mệnh theo Cung Phi để tính màu sắc hợp mệnh khi đi mua đá quý.
Cách tra tìm cung mệnh theo Cung phi Bát Trạch
*Cần phải có 3 dữ liệu sau đây:
1- Phải biết tuổi Ta hoặc tuổi Tây (Năm sinh) của người cần xem.
2- Họ là Nam hay Nữ.
3- Có sẵn Bảng Cung phi Bát trạch tam nguyên tra cung mạng và cung mệnh tổng hợp có 5 cột như sau
BẢNG XEM CUNG MẠNG VÀ CUNG MỆNH
(TỪ NĂM 1900 ĐẾN NĂM 2020)





.jpg)
*Ví dụ xem cung mệnh cho tớ là Nam sinh năm 1985 như sau:
- Tra cột 1, ta tìm năm 1985.
- Cột 2 thấy Tuổi âm lịch là Ất Sửu xem qua cột 3 kế bên thì thấy mạng là (Hải Trung) Kim
- Vì là Nam nên xem mệnh ở cột 4 là Càn thuộc hành Kim
==> Diễn giải:
Tớ có cung mạng là Kim còn cung mệnh là Càn, cũng thuộc hành Kim (thuộc nhóm Tây tứ trạch hợp hướng Tây Bắc)
- Kết luận:
+ Màu chính cung Mệnh của tớ là màu trắng của hành Kim.
+ Màu mà mệnh Kim của tớ chế khắc được là xanh lá cây thuộc hành Mộc.
+ Nhưng màu quan trọng nhất, tương sinh ra Mệnh tớ là màu Vàng thuộc hành Thổ. (Thổ sinh Kim)
Như vậy, tớ nên chọn những loại đá quý màu vàng kết hợp với màu trắng: rất có lợi về sức khoẻ, hạnh phúc, an khang, thăng tiến và thịnh vượng.
Chúc các bạn tìm được cho mình viên đá quý hợp mệnh theo Cung Phi! Mọi thắc mắc xin liên hệ tớ qua Yahoo Messenger hay di động 01228812323 tớ sẽ tư vấn giúp cho các bạn.
- Tổng hợp -
Thảo luận ở đây: forum/viewtopic.php?f=15&t=31
TRUYỀN THUYẾT TỲ HƯU
Tương truyền, thời vua Minh Thái Tổ khi lập nghiệp gặp lúc ngân khố cạn kiệt, vua rất lo lắng. Trong giấc mơ vàng, vua thấy có con vật đầu lân mình to, chân to lại có sừng trên đầu xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện nuốt nhanh những thỏi vàng ròng sáng chói mang vào trong cung vua.
Theo thầy phong thủy tính toán, khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài và đất ấy là đất linh, như vậy, theo đó giấc mơ đã ứng với việc trời đất muốn giúp nhà vua lập nghiệp lớn. Sau đó vua Minh Thái Tổ cho xây một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm thành, ngay tại cung tài ấy. Con linh vật ấy có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm. Con vật này không ăn thức ăn bình thường mà chỉ ăn vàng, bạc, đặc biệt nó không có hậu môn, do vậy vàng bạc nó ăn vào không bị thoát đi đâu, cho dù no căng bụng.
Sau khi có linh vật ấy, ngân khố nhà Minh ngày càng đầy. Sau đó, vua cho tạc tượng con linh vật trên bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu “Tài môn”. Từ đấy, nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có.
Khi nhà Mãn Thanh lên ngôi vua, họ vẫn rất tin vào sự mầu nhiệm của con vật linh kia và đặt tên cho nó là con Kỳ Hưu hay cũng gọi là Tỳ Hưu. Nhà Thanh cho tạc nhiều tượng con Tỳ Hưu đặt tại cung vua và hoàng hậu. Các cung công chúa, hoàng tử đều không được đặt con Tỳ Hưu. Các quan càng không được dùng cho nhà mình, bởi quan không được giàu hơn vua.
Thời ấy, ai dùng thứ gì giống vua dùng là phạm thượng. Nhưng với sự linh nghiệm của con vật này khiến các quan lại lén lút tạc tượng con Tỳ Hưu đặt trong phòng kín, ngay cung tài nhà mình để “dẫn tiền vào nhà”.
Muốn tạc tượng phải gọi thợ điêu khắc và thế là thợ điêu khắc cũng tự tạc cho mình một con để trong buồng kín, cầu tài. Cứ thế, các đời sau, con, cháu thợ khắc ngọc cũng biết sự linh nghiệm ấy mà tạc tượng Tỳ Hưu để trong nhà, cầu may.
CHUYỆN TỲ HƯU VỚI HÒA THÂN
Thiếu thời nhà Hòa Thân rất nghèo, nghèo đến nỗi không có đủ 10 lượng bạc nộp cho quan để xin nhận lại chức quan nhỏ của cha truyền lại. Nhờ ông Liêm (sau này là cha vợ) cho 10 lạng bạc mà Hòa Thân có cơ hội bước vào quan trường.
Thời vua Càn Long, Hòa Thân là nhân vật “dưới một người trên triệu triệu người” (Trong phim “Tể Tướng lưng gù hoặc Lưu gù (Lưu Dung)” chúng ta đã biết về nhân vật Hòa Thân). Ngân khố nhà vua ngày càng vơi mà nhà Hòa Thân ngày càng giàu với câu nói nổi tiếng “Những gì nhà vua có thì Hoà Thân có, còn những gì Hoà Thân có thì vua chưa chắc đã có”.
Đến khi Hòa Thân bị giết quan quân đã tá hỏa khi thấy tài sản Hòa Thân bị tịch thu nhiều gấp 10 lần ngân khố nhà vua đang có.
Hòa Thân có 2 vật trấn trạch được cất giấu trong hòn giả sơn trước nhà đó là con Tỳ Hưu và chữ Phúc do chính vua Khang Hy viết tặng bà nội, nhân ngày mừng thượng thọ. Khi đập vỡ hòn giả sơn, các quan mới phát hiện trong núi đá ấy có con Tỳ Hưu, mà con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn Tỳ Hưu của vua.
Ngọc để tạc con Tỳ Hưu của Hoà Thân là NGỌC PHỈ THÚY xanh lý mát rượi, trong khi vua chỉ dám tạc bằng BẠCH NGỌC. Bụng và mông con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn bụng, mông con Tỳ Hưu của vua và như thế khiến Hòa Thân nhiều vàng bạc hơn vua.
Sau khi tịch thu con Tỳ Hưu, nhà vua không thể tịch thu chữ “Phúc” kia được bởi chữ Phúc đã được gắn chết vào đá hồng ngọc; nếu đập đá ra lấy chữ thì đá sẽ vỡ, như thế thì phúc tan. Mà chữ thì do vua Khang Hy viết nên không ai dám phạm thượng. Thế là đành để “Phúc” lại cho nhà Hòa Thân, có lẽ vì thế nên dù phạm nhiều tội tày đình nhưng Hòa Thân chỉ chết một mình, thay vì phải bị tru di tam tộc.
Và ngày nay sự linh nghiệm của Tỳ Hưu vẫn hiện hữu trong nhân gian, vẫn mang lại nhiều may mắn về tài lộc, sức khỏe, công danh cho người sử dụng theo từng màu sắc của Tỳ Hưu.
1. Mạng Kim – Màu Trắng
2. Mạng Thủy – Màu đen, xanh da trời
3. Mạng Mộc – Màu xanh lá cây
4. Mạng Hỏa – Màu tím, phấn hồng, đỏ
5. Mạng Thổ – Màu vàng
Khi nhà Thanh sụp đổ vào năm 1911, các cổng thành của ngoại thành dần dần bị phá bỏ để thành phố phát triển. Chỉ còn lại hai cổng duy nhất đó là Đức Thắng Môn ở phía nam và Thiên An Môn ở phía bắc. Sở dĩ Đức Thắng Môn còn tồn tại là vì nó nằm đúng địa điểm quan trọng trong phong thủy và là vì nó có giữ một trong những con Thần Thú quan trọng của người Trung Quốc: con Tỳ Hưu (Pixiu)
Tỳ Hưu là một trong ba thần thú của Trung Quốc, cũng là một trong chín con của Rồng. Tỳ Hưu có hình dạng như con chó nhưng miệng rộng, có cánh, có sừng và không có hậu môn. Theo người Trung Quốc, con Tỳ Hưu: có sừng là để bảo vệ chủ, có miệng rộng là để gom tiền tài vào người, không có hậu môn là vì không có chỗ cho tiền tài thoát ra, có cánh là để cho chủ mau thăng quan tiến chức.
Qua nhiều triều đại, con Tỳ Hưu cũng dần dần thay đổi. Vào thời nhà đường, con Tỳ Hưu có cái mông rất to — vào lúc bấy giờ, nhà Đường cho là phải tròn trịa nẩy nở mới là đẹp. Con Tỳ Hưu để trong Đức Thắng Môn cũng tương đối to, cỡ bằng một con cọp con, được canh giữ rất kĩ và cấm chụp ảnh.
Khi hết một ngày Tỳ Hưu hút tài lộc, người chủ sẽ vuốt Tỳ Hưu đằng mông lên đến đầu rồi bỏ tài lộc vào túi. Tuyệt đối không được cho người khác đụng vào Tỳ Hưu kẻo bị lấy mất tài lộc. Gia chủ không bao giờ được để tay vào miệng Tỳ Hưu, vì Tỳ Hưu sẽ hút hết tài lộc của chính mình, ngược lại, khách nào mà sơ ý để tay vào miệng con Tỳ Hưu đó, thì sẽ mất hết lộc của người khách đó.
Khi có một Tỳ Hưu phải biết cách xoa con Tỳ Hưu để có được sự phù trợ của nó. Cách thức xoa con Tỳ Hưu cũng cầu kỳ:
- Trước nhất là xoa tai để nói cho nó nghe nó biết chủ là ai.
- Sau đó là xoa xuống miệng như là cho nó ăn cho nó thương chủ.
- Xoa xuống cánh để nó phù trợ cho mình mau thăng quan tiến chức.
- Xoa xuống chân tượng trưng cho sự nhanh nhẹn vững chãi.
- Xoa xuống lưng cuối cùng là xuống mông rồi sau đó nắm hai tay lại bỏ vào túi. Coi như đã đem tài lộc bỏ vào túi mình.
Người Trung Quốc tin mấy chuyện lạ kỳ. Họ nói là sau khi thỉnh con Tỳ Hưu về thì nên lấy khăn sạch tắm cho nó, đánh răng cho nó. Rồi để nó vị trí nào có thể xoay mặt ra cửa sổ hay ra cửa chính để nó hút tiền tài phía ngoài vào. Nhà ai có cửa sổ nhìn ra ngân hàng thì coi như là trúng số độc đắc. Song người Trung Quốc rất mê tín, và những linh vật chiếm vị trí không nhỏ trong tín ngưỡng của họ.
Ở Việt Nam cũng có những con kỳ hưu đặt ở nhiều nơi. Ví dụ như trong DiamondPlaza. Chủ khu mua sắm trên đã làm thêm một khách sạn mới cạnh khu An Đông sau khi đặt tượng hai con kỳ hưu ở Diamond đấy. Tại khách sạn mới chủ đặt hai con kỳ hưu to hơn con trước”. “Với những kỳ tích hấp dẫn ấy nên Saigontourist mong khách mình ngày một khá hơn, và trong tour có dẫn khách đến Tài môn để “thỉnh” kỳ hưu mang tài lộc về nhà” (không ai nói đi “mua” kỳ hươu mà nói “thỉnh” kỳ hươu vì đó là linh vật). Con kỳ hưu không chỉ mang tiền bạc vào nhà mà còn giúp công danh tấn tới và sự bình an lâu dài.
- TỔNG HỢP -
Hiện nay tại các thành phố lớn ở nước ta như Hà Nội, TP HCM…Có các cửa hàng bày bán các vật khí phong thủy đủ loại, nhưng ít ai biết các vật khí phong thủy ấy có tác dụng gì, được vận dụng vào trường hợp nào trong phong thủy nhà cửa…
Trong các vật khí phong thủy ấy có con Tỳ Hưu. Theo kinh nghiệm hàng ngàn năm của các đại sư phong thủy Trung quốc,Tỳ Hưu là một loại mãnh thú hung mãnh, nhưng lại là một loại mãnh thú mang ý nghĩa tốt lành.

Vật liệu tạo hình con Tỳ Hưu này rất nhiều : làm bằng gỗ, làm bằng đá, làm bằng ngọc, làm bằng sứ, làm bằng đồng…Về hình dáng Tỳ Hưu hiện đang lưu hành từ trước đến nay, vẫn là loại Tỳ Hưu trên đầu có một cái sừng, có bờm, có một số con có hai cánh, lông đuôi có tua. Tỳ Hưu còn có tên gọi khác là Thiên Lộc.
Nếu có dịp ta đi du lịch đến Bắc Kinh, ta sẽ thấy các cửa hàng lớn đều bày bán Tỳ Hưu với đủ vóc dáng và chủng loại, từ con nhỏ xíu như ngón tay cái, đến con lớn có chiều cao trên 0,3 mét. Con Tỳ Hưu ở xứ sở này rất được trân trọng như một bảo vật, và được Bộ VHTT Trung Quốc cấp phép lưu hành. Về tác dụng của Tỳ Hưu trong phong thủy thì có nhiều tác dụng :
1. Về màu sắc : Tỳ Hưu màu đen thì có tác dụng chiêu tài, phát lộc. Tỳ Hưu màu trắng thì có tác dụng bảo trợ sức khỏe. Tỳ Hưu màu xanh thì có tác dụng may mắn trong công danh.
2. Ngoài các tác dụng cá biệt như trên, Tỳ Hưu còn có tác dụng trấn nhà để tránh tà khí, ta đặt Tỳ Hưu đã được “khai quang” ở các hướng tốt trong nhà như : Sanh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị. Nhất là hướng “sanh khí”, thì Tỳ Hưu có thể làm cho vận mệnh các thành viên trong gia đình chuyển biến tốt, vận mệnh tốt được nâng cao, đuổi tà khí đi và có tác dụng trấn nhà, vì vậy Tỳ Hưu đã trở thành thần bảo vệ cho gia đình, bảo vệ sự bình yên cho ngôi nhà của ta.
3. Tỳ Hưu còn có tác dụng mang lại điều tốt lành : Như nhiều tài lộc, nhất là ở các sòng bạc tại Trung Quốc ta đều thấy họ chưng Tỳ Hưu, nhưng được bảo vệ rất kỹ, vì sợ mất trộm, sẽ gây ra nhiều điều xúi quẩy cho họ.Tỳ hưu ngoài việc có tác dụng chiêu tài lộc không liêm chính như trên, Tỳ Hưu cũng còn có tác dụng chiêu tài lộc liêm chính, nên những người kinh doanh cũng đặt Tỳ Hưu ở nhà và ở công ty…
Tỳ Hưu khi đặt, đầu Tỳ Hưu phải hướng ra cửa chính,hoặc hướng ra cửa sổ để chiêu tài khí bốn phương.Tất nhiên khi đặt bất cứ vật khí phong thũy nào, điều cần phải nhớ là: Xem ngày giờ tốt để đặt.
4. Tỳ Hưu còn có tác dụng hóa giãi “Ngũ hoàng đại sát”. Ngũ hoàng đại sát là một sát tinh trong phong thũy,khi nó vào nhà thì tác dụng của nó thật vô cùng đáng sợ : mang đến những điều bất lợi cho những thành viên trong gia đình về sức khỏe và tài vận.
Nếu ở phương vị ngũ hoàng đại sát bay đến, ta đặt hai con Tỳ Hưu phía sau cửa chính, đầu Tỳ Hưu hướng về phía trước, thì có thể hóa giãi sát khí của ngũ hoàng đại sát.
Cách khai quang Tỳ Hưu
1, Chọn một ngày đẹp.
2,Đặt Tỳ Hưu quay về phía Thần Tài.
3, Đứng phía sau Tỳ Hưu hai bàn tay chắp vào hình dấu +, mắt nhắm vào và cầu ước điều mình muốn, phải thật thành tâm thì mới linh.
4, Sau khi ước, quay Tỳ Hưu lại phía mình.
5, Lấy khăn bông thấm một chút nước chè điểm ( chấm ) vào mắt Tỳ Hưu, điểm mắt trái trước sau đó điểm mắt phải, lặp lai 3 lần.
6, Tay trái giữ chắc Tỳ Hưu, dùng ngón cái tay phải xoa đầu Tỳ Hưu, xoa từ phía trước ra phía sau, lặp lại 3 lần.
7, Thả lỏng tai, tháo dây vải đỏ ở cổ Tỳ Hưu để Tỳ Hưu bắt đầu đi ăn tiền.
8, Khai quang đã hoàn tất.
Có một cách khai quang khác dễ làm hơn mời các bạn tham khảo :
1, Dùng mảnh vải màu đỏ sạch gói TỲ HƯU lại để dưới gối đầu mình 24 tiếng.
2, Sau đó để bên ngoài cửa sổ 2 ngày, để TỲ HƯU hấp thụ thiên địa chi khí ( linh khí của trời đất )
3, Lấy nước âm dương ( nước giếng cho thêm nước mưa ), nếu không có điều kiên thì lấy nước lọc cho thêm muối hạt lau Mắt, Miệng, Mông TỲ HƯU ( cách lau giống trên )
BÀY TRÍ TỲ HƯU
Bày trí Tỳ Hưu có tam kỵ ( 3 điều cấm kỵ )
1, Không được đặt Tỳ Hưu xông chính môn ( từ ngoài quay vào trong nhà ) mà phải đặt đầu Tỳ Hưu quay ra ngoài.
2, Không quay Tỳ Hưu vào gương, vì gương có quang sát, Tỳ Hưu rất kỵ.
3, Không đặt đối với giường ngủ, vì như thế xẽ không có lợi cho chính mình.
Ngoài ra còn một số điều nên chú ý nếu bạn thở Tỳ Hưu:
1, Bát hương không đuợc cho đất cát vào, mà phải cho gạo đỏ, gạo đen, gạo trân châu châu 5 màu, nếu cho thêm tinh thể đá thạch anh càng tốt
2, Đồ thắp hương không được cho lê, dâu tây còn các thứ khác không kỵ.
Phụ nữ đến tháng, có thai không được thắp hương, sờ mó Tỳ Hưu ( Tỳ Hưu kỵ huyết sát, quang sát, thai sát )
4, Không nên thường xuyên lau chùi Tỳ Hưu, mổi năm chỉ lau chùi 4 lần: âm lịch 6/2, 2/6. 14/7, 12/9.
5, Không được tuỳ tiện thay đổi vị trí, không nên sờ mó vào mồm và phần đầu Tỳ Hưu, nếu muốn thay đổi vị trí Tỳ Hưu trước tiên phải dùng vải đỏ che phần đầu Tỳ Hưu rồi mới chuyển.
CÁCH THỨC KHỞI ĐỘNG TỲ HƯU:
TỲ HƯU sau khi mua về phải bịt mắt lại, đợi tới ngày khai quang mới mở ra.
ngày khai quang cần chuẩn bị các thứ sau :
1, Thất bảo thạch ( 7 viên đá quý )
2, Gạo ngũ cốc tạp.
3, Sợi ngũ sắc.
4, Sợi ngũ đế
5, Linh Đang.
6, Một tờ giấy đỏ, bên trên tờ giấy viết bài chú.
Lần lượt đổ ba món đầu tiên vào bụng TỲ HƯU, sau đó treo sợi ngũ đế và Linh đang lên trên TỲ HƯU, rồi chuẩn bị “niệm“.
BÀI CHÚ PHƯỚC LÀNH TỲ HƯU:
*Kim quang nhất khí, TỲ HƯU cao tường, tiến tài tiến quý, lợi lộ hanh thông.
*Kim quang nhị khí, TỲ HƯU phúc giáng, phúc lộc mãn đình, phúc tinh cao chiếu.
*Kim quang tam khí, TỲ HƯU điểm hóa, nam nạp bách phúc, nữ nạp thiên tường, cát lợi nguyên hanh.
Niệm chú xong đặt bài chú vào bụng TỲ HƯU, như thế TỲ HƯU dã có linh khí. Chờ sau khi hương chấy hết là có thể đặt TỲ HƯU ở quầy thu ngân, hoặc phòng khách, ở cửa hoặc huyền quan, điều quan trọng nhất là đầu TỲ HƯU phải quay ra cửa chính hoặc cửa sổ.
Thờ TỲ HƯU mỗi ngày phải đốt một khoanh hương vòng để TỲ HƯU vấn (ngửi), hoặc đặt bên cạnh TỲ HƯU một ly nước cũng được. Như thế TỲ HƯU mới có sức đi kiếm tiến cho chủ nhân.
HÌNH THỨC ĐEO NGỌC BỘI TỲ HƯU
1, Dùng dây đỏ đeo ngọc bôi TỲ HƯU trên cổ hoặc cổ tay.
2, Dùng nước mưa và nước sông tắm cho cơ thể nó.
3, TỲ HƯU rất được QUAN ÂM “cưng“, cho nên thắp hương khai quang trước mặt QUAN ÂM rất tốt ( tốt nhất mỗi tháng nên đặt TỲ HƯU trước QUAN ÂM thắp hương càu nguyện.)
4, Không nên sờ vào miệng TỲ HƯU, miệng để hút tiền tài, không nên sờ vào mắt, mắt để tìm châu báu.
|
|