SƠN MÀI BÌNH DƯƠNG
|
Bình Dương, trong tiến trình phát triển vùng đất mang đậm nét văn hoá làng nghề thủ công truyền thống. Sơn mài là một trong những làng nghề nổi tiếng, đã định vị trên địa bàn hơn 300 năm. Từ lối chế tác cha truyền con nối, các lớp nghệ nhân luôn dày công gởi cả tâm huyết để dần hoàn thiện thành tác phẩm sơn mài nghệ thuật lừng danh, với vẽ đẹp lộng lẫy và sâu lắng.
|
|
Làng Tương Bình Hiệp – chiếc nôi nghề sơn mài Bình Dương
Các nghề thủ công truyền thống sơn mài, chạm khắc, đồ mộc đã có từ rất sớm và phát triển mạnh ở đất Thủ – Bình Dương, vùng được định hình và phát triển nghề chủ yếu ở thị xã Thủ Dầu Một (Chánh Nghĩa, Phú Cường, Tương Bình Hiệp, Tân An, Định Hòa). Chiếc nôi nghề sơn mài Bình Dương là làng Tương Bình Hiệp.
Theo tư liệu lịch sử – “Gia Định Thành Thống Chí” của Trịnh Hoài Đức, thì nghề sơn mài ở Bình Dương có từ thế kỷ XVII, do di dân từ miền Trung, miền Bắc mang theo vào vùng đất mới. Sau thời gian khai khẩn đất đai, đồng áng, sinh cơ lập nghiệp, họ đã thực hiện những bức tranh sơn mài đầu tiên – chủ yếu quét sơn vẽ tranh cảnh. Những bức vẽ cây đa, bến nước, mái đình, tre làng, … được tái hiện trên tranh giúp họ vơi đi nổi nhớ quê nhà…
Bức tranh vẽ cảnh sinh hoạt đồng quê Làng Sơn mài được biết đến nhiều và tiêu biểu nhất ở Bình Dương, là làng sơn mài Tương Bình Hiệp ra đời vào thế kỷ XVIII. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi: “… ở làng Thủ Dầu Một, dân chúng có nghề làm sơn theo kiểu cổ khá thịnh vượng…”. Người Bình Dương thời ấy đã sớm nhận ra lợi thế của vùng đất này đã dần hình thành nên làng thủ công đặc sắc. Với nguồn nguyên liệu gỗ các loại, kết hợp với sơn dầu Phú Thọ – một loại nhựa có màu sắc đẹp, lạ, bóng, bền đã tạo nên lớp men đen bóng cho những tác phẩm đơn giản ban đầu mà nghệ nhân đã không ngừng hoàn thiện kỹ thuật đã đào tạo lớp kế thừa nghề cổ truyền và phát triển lâu dài trong xã hội.
Dưới thời thuộc Pháp năm 1901, thực dân Pháp cho mở trường dạy nghề Mỹ nghệ gọi là Trường Bá nghệ thực hành Thủ Dầu Một, để phục vụ công tác khai phá thuộc địa. Từ đó, nghề thủ công mỹ nghệ có thêm đội ngũ thợ lành nghề được đào tạo chính quy, đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển của các nghề thủ công cổ truyền ở Bình Dương.
Đầu Thế kỷ XX các nhóm thợ “Thủ” tập trung tại làng Tương Bình Hiệp – Phú Cường chủ yếu là sản xuất các mặt hàng sơn mài và điêu khắc gỗ. Tên tuổi các thợ Xù Nhồng, Phèn, Dựa được vang danh khắp nơi, cùng lớp nghệ nhân trẻ có học vấn, tốt nghiệp ở các trường mỹ thuật như Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương, mỹ thuật Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu Một.
Theo số liệu thống kê năm 1945, ở Bình Dương có 10 cơ sở sản xuất sơn mài. Riêng làng Tương Bình Hiệp có hơn 300 hộ gia đình làm nghề. Đặc biệt, xưởng sơn mài Thành Lễ thành lập 1943 là cơ sở sản xuất lớn nhất thời bấy giờ tạo tiếng tăm trong và ngoài nước.
Tranh sơn mài khảm xà cừ
Đỉnh cao của sơn mài Bình Dương ở thời điểm 1945 – 1975. Sự ra đời của xưởng sơn mài Thành Lễ, do hai nghệ nhân Trương Văn Thành và Nguyễn Văn Lễ sáng lập. Xưởng lúc bấy giờ quy tụ được nhiều nghệ nhân nổi tiếng trong vùng như Thái Văn Ngôi, Ngô Từ Sâm, Trần Văn Nam… hàng sơn mài giai đoạn này xuất khẩu sang các nước Châu Âu, có giá trị thương mại lớn. Hàng sơn mài thời này đạt đỉnh cao về số lượng, với trình độ mỹ thuật và chất lượng nghệ thuật, sự đa dạng phong phú. Đó là thời vàng son nhất của ngành sơn mài. Tại hội chợ Munich (Đức) 1964, sản phẩm được tặng huy chương vàng, hội chợ công thương sài gòn 1974, triển lãm kinh tế, khoa học kỹ thuật toàn quốc năm 1975 sơn mài Bình Dương được huy chương vàng.
Sơn mài Bình Dương nổi tiếng được khách hàng ưa chuộng, bởi từ nguyên liệu gỗ đến khâu cuối cùng của sản phẩm phải trải qua quá trình 25 công đoạn, mỗi công đoạn đòi hỏi một nghệ thuật riêng tỷ mỉ và công phu. Một qui trình sơn mỗi sản phẩm phải mất từ 3 đến 6 tháng mới đảm bảo yêu cầu chất lượng.
Năm 1975 đến nay, sau nhiều biến đổi, ngành sơn mài ổn định và phát triển. Sơn mài cổ điển vẫn được ưa chuộng, thêm vào đó hàng loạt các mẫu mã hiện đại, phù hợp với yêu cầu cơ chế thị hiếu mới.
Trải qua nhiều thế hệ, sơn mài trên vùng đất Bình Dương vẫn giữ được nét đẹp truyền thống, đó là sự tinh xảo, nhẹ nhàng thanh thoát, đậm đà tính cách Á đông. Ngày nay, các cơ sở tại làng sơn mài Tương Bình Hiệp có khả năng sản xuất khá đa dạng các sản phẩm sơn mài, từ những bức tranh nghệ thuật đến các loại tủ, bàn ghế… Bên cạnh các loại tranh sơn mài, còn có các sản phẩm sơn mài để sử dụng và trang trí như: bình, lọ, dĩa, vòng tay, hộp… Sản phẩm sơn mài nói chung có rất nhiều phương pháp thể hiện như: sơn mài sơn lộng, sơn mài vẽ mỏng, sơn mài khoét trũng, sơn mài đắp nổi, sơn mài cẩn trứng, sơn mài cẩn xà cừ, cẩn ốc… sự đa dạng về sản phẩm, về sự kết hợp sơn mài với các chất liệu khác như gốm, tre... có nhiều xưởng sản xuất, xuất khẩu hàng sơn mài như các xí nghiệp Thành Lễ, Đồng Tâm, Hùng Hương…
Với bề dày truyền thống và lịch sử phát triển vùng đất hơn 300 năm, nghề sơn mài trên đất Bình Dương vẫn giữ vững đậm đà bản sắc dân tộc. Ngày nay, sự phát triển về khoa học công nghệ, nghề sơn mài với sự kế thừa truyền thống kết hợp với hiện đại đã góp phần tạo nên tính đa dạng mẫu mã, phong phú về chất liệu… Sơn mài đã và đang là nguồn cảm hứng thẫm mỹ của các thế hệ nghệ nhân tài hoa, là tiếng nói nghệ thuật mang tính nhân bản cho bạn bè trong nước và thế giới hiểu thêm về bản sắc độc đáo của văn hóa dân gian Việt Nam.
Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp không những là niềm tự hào của bao thế hệ nơi đây, mà còn là một nét văn hóa truyền thống đặc trưng của vùng đất đáng trân trọng. Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, các cấp các ngành, cùng với sự đồng lòng của nghệ nhân, người thợ, doanh nghiệp yêu nghề. Ngày 29/8/2006, Hiệp hội Sơn mài – Điêu khắc Bình Dương được thành lập tại Quyết định số: 3838/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương. Hiệp hội sẽ là cầu nối quan trọng, góp phần gìn giữ và phát huy thế mạnh nghề truyền thống sơn mài ở Bình Dương.
|
GỐM SỨ
Ở BÌNH DƯƠNG
Ở BÌNH DƯƠNG
Những ngành nghề thủ công mỹ nghệ chính là nét đặc sắc trong truyền thống văn hóa của vùng đất Bình Dương. Thiên nhiên đã ưu đãi cho vùng đất này một tài nguyên rừng phong phú với nhiều loại gỗ quý hiếm và một nguồn khoáng sản đất sét, caolin rất dồi dào. Đây chính là những nguồn nguyên liệu quan trọng trong việc hình thành và phát triển các nghề thủ công mỹ nghệ như: Nghề điêu khắc gỗ, nghề sơn mài, nghề làm gốm...
Bình Dương là một tỉnh có nguồn khoáng sản đất sét, cao lanh rất phong phú là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất gốm sứ và là nơi rất thuận tiện cho việc lưu thông buôn bán hàng hóa nên đã thu hút được nhiều nghệ nhân làm gốm từ vùng Cây Mai - Bến Nghé về đây sinh sống và lập nghiệp. Nhờ những điều kiện tự nhiên thuận lợi đó và con người có tính cần cù, sáng tạo ngành gốm sứ Sông Bé (Bình Dương) đã tồn tại và phát triển qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển ngành gốm sứ đã trải qua nhiều bước thăng trầm nhưng nhìn chung nó không bị lụi tàn mà còn có nhịp độ phát triển đi lên ngày càng nhanh.
Từ hòn đất vô tri, qua bàn tay nhào nặn của các nghệ nhân, những sản phẩm gốm sứ tiêu dùng đậm chất nghệ thuật đã ra đời...
Nói về gốm thì Bình Dương thuộc loại hàng đầu cả nước về số lượng lò và sản phẩm bán ra. Trong đó phần lớn là lò gốm cổ, vẫn giữ nguyên lối sản xuất theo phương pháp truyền thống hàng trăm năm qua. Cùng với các làng nghề gốm sứ Bát tràng, Tràng An, Biên Hoà… gốm sứ Bình Dương nổi tiếng trong và ngoài nước.
Nhằm tôn vinh giới thiệu một trong những nghề truyền thống có từ lâu đời và nổi tiếng đặc sắc của tỉnh Bình Dương; đồng thời khẳng định vị trí, tiềm năng của nghề gốm sứ trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương hiện tại và tương lai, UBND tỉnh đã tổ chức Festival Gốm sứ 2010 vào tháng 9/2010.
Đây cũng là cơ sở, điều kiện hình thành Trung tâm bảo tồn gốm sứ Việt Nam sau này.
Cổng của một lò gốm thủ công
Quy trình làm gốm bắt đầu từ việc chọn mẫu đất.
Đất lên khuông
Mang bán thành phẩm đi phơi nắng
Lựa chọn, kiểm tra rất kỹ trước khi đưa nung
Đưa vào lò nung
Lò nung kiểu cũ vẫn đun bằng củi, than đá
Ra lò...
Những công nhân đang tô điểm cho những sản phẩm đã ra lò.
Thành quả cuối cùng là những sản phẩm đẹp mê hồn...
... sẵn sàng cho những cơ hội xuất ngoại.
Chén ngọc Minh Long dâng tặng nhân kỷ niệm Đại lễ Ngàn năm Thăng Long- Hà Nội.
Ngày nay trên địa bàn Bình Dương đã có 125 cơ sở sản xuất với trên 500 lò gốm hoạt động tập trung chủ yếu tại huyện Thuận An, Thị xã Thủ Dầu 1 và huyện Tân Uyên, sản xuất hàng triệu sản phẩm mỗi năm đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường trong nước và chủ yếu phục vụ xuất khẩu. Một số nhà xuất khẩu lớn đã gây được tiếng vang trên thị trường quốc tế như công ty Nam Việt ở Tân Uyên với các loại lò nung hiện đại, có diện tích nhà xưởng trên diện tích 27 ha, hàng năm xuất khẩu hàng nghìn container hàng sang thị trường Châu Âu và Nam Mỹ; công ty Minh Long 1 với hệ thống lò tuy nen và dây chuyền sản xuất hiện đại từ khâu phối trộn nguyên liệu, đến khâu thiết kế, tạo mẫu, sấy khô và phủ men... Ngoài ra cũng còn phải kể thêm rất nhiều công ty khác như Thành Lễ, Minh Tâm, Hiệp Kỳ, Cường Phát... cùng các tổ hợp sản xuất đã góp phần giới thiệu sản phẩm Gốm Bình Dương đến khắp mọi châu lục trên thế giới, đem lại nguồn kim ngạch xuất khẩu hàng năm lên tới 60 triệu USD.Trong những năm qua, gốm sứ Bình Dương không những đã xuất ngoại để thu về nguồn lợi lớn, mà còn giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động tại địa phương.
Tối ngày 02-9-2010, tại Sân Vận động tỉnh, Ban tổ chức Festival Gốm sứ Việt Nam – Bình Dương 2010 (FGSVN-BD) khai mạc Hội chợ triển lãm “Gốm sứ - Thế giới sắc màu”.
Đến dự, về phía Trung ương có đồng chí Trương Vĩnh Trọng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ; ông Phan Thế Hào – Vụ trưởng Bộ Công Thương tại Tp.HCM; ông Vũ Quốc Tuấn – Chủ tịch Hiệp Hội Làng nghề việt Nam. Về phía tỉnh Bình Dương có ông Mai Thế Trung - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; ông Vũ Minh Sang – Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy – Chủ tịch HĐND tỉnh; ông Nguyễn Hoàng Sơn – Phó Bí thư Tỉnh ủy – Chủ tịch UBND tỉnh; bà Đào Ngọc Nữ - Chủ tịch UBMTTQVN tỉnh; các Phó Chủ tịch HĐND tỉnh và các Phó Chủ tịch UBND tỉnh; ông Nguyễn Minh Đức - nguyên Bí thư Tỉnh ủy; lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh và các tỉnh, thành; đại diện các doanh nghiệp tham dự Hội chợ triển lãm và các khách mời.
Hội chợ triển lãm với hơn 600 gian hàng trưng bày gốm sứ trong và ngoài nước như gốm sứ Minh Long, Cường Phát, Bát Tràng, gốm sứ Trung Quốc…Tại Triển lãm, ngoài việc giới thiệu sản phẩm gốm sứ đây còn là cơ hội để các công ty đẩy mạnh xúc tiến thương mại, giao dịch, ký kết hợp đồng sản xuất, mua bán…Ngoài ra, một số sản phẩm tham gia cuộc thi “Gốm đề cử kỷ lục Việt Nam” cũng được trưng bày cho công chúng tham quan như Gốm mây, Đất nước, Lu Thiên địa, Thăng Long hoài cổ…Bên cạnh đó, còn trưng bày một số sản phẩm cao cấp được trang trí hết sức sinh động dưới bàn tay của những nghệ nhân gốm sứ
Phát biểu tại lễ khai mạc, ông Huỳnh Văn Nhị - Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng những thành tựu phát triển kinh tế tỉnh Bình Dương đạt được trong thời gian qua có sự đóng góp không nhỏ của ngành gốm sứ Bình Dương, đã sản xuất ra những sản phẩm nổi tiếng hình thành nên thương hiệu gốm sứ Bình Dương. Hội chợ triển lãm là một trong những hoạt động trọng tâm của FGSVN-BD nhằm tôn vinh, giới thiệu về gốm sứ - một nghề lâu đời, đặc sắc của dân tộc và khẳng định tiềm năng của ngành gốm sứ trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng.
|
Nghề Vẽ Tranh Kiếng ở Bình Dương |
|
Tranh kiếng là một loại hình nghệ thuật dân gian được dân Nam bộ nói chung và người dân Bình Dương nói riêng rất là ưa chuộng. Trước đây hầu như nhà nào cũng treo một vài bức tranh kiếng nơi bàn thờ, gian nhà chính phòng khách và ngay cả nơi cửa buồng nhà ở (Kiểu nhà ba gian, hai chái theo lối kiến trúc cổ xưa ở Nam bộ). Việc treo tranh kiếng ở trong nhà đã được cư dân Nam bộ cũng như người dân xứ Thủ - Bình Dương xem như đó là một nét đẹp văn hóa riêng rất độc đáo không thua kém gì những loại hình tranh tượng khác.
Từ nghề vẽ tranh trên giấy, lụa, gỗ, các nghệ nhân nghề vẽ đã sáng tạo ra cách vẽ tranh trên kiếng. Dù kỹ thuật vẽ tranh kiếng có khó hơn, đòi hỏi người vẽ phải khéo léo và óc thẩm mỹ cao, nhất là lâu bền dễ bảo quản hơn, khi cần chỉ chùi tranh sẽ mới đẹp như vừa vẽ xong. Về kỹ thuật vẽ, tranh kiếng khác với các loại tranh vẽ thông thường là phải vẽ từ phía sau mặt kiếng vì khi vẽ xong hoàn thành tấm kiếng phải lật lại, phía không có nét vẽ mới chính là mặt chính của tranh. Vì thế khi vẽ các chi tiết đáng lẽ phải vẽ sau cùng, ở tranh kiếng phải vẽ trước tiên. Chính với đặc điểm này đã tạo nên nét độc đáo của tranh kiếng, nó đòi hỏi sự khéo léo và tài năng của người nghệ nhân vẽ tranh trên kiếng. Khi nghề tranh kiếng hình thành lại gặp ngay sự thuận lợi nhờ sự sử dụng kiếng (thủy tinh) trở nên phổ biến, dễ tìm, dễ mua, các loại sơn màu sơn tốt kể cả sơn nước ngoài cũng không hiếm, vì thế “cùng với nghề mộc, nghề vẽ tranh kiếng cũng phát triển khá nhanh mãi đến trước năm 1945” (Sơn Nam).
Khi nói về nghề vẽ tranh kiếng truyền thống ở vùng đất Lái Thiêu – Thủ Dầu Một, nhà nghiên cứu văn hóa Sơn Nam đã cho biết: “Lái Thiêu, từ năm 1910 trở về sau, nghệ nhân người Việt đã phỏng theo kỹ thuật vẽ kiếng, lần hồi sáng tạo ra kiểu tranh thờ, định hình và phù hợp với cảnh quan của người Nam bộ, đặc biệt là người đi khẩn hoang ở đồng bằng. Hai câu liễn vẽ với màu tươi tắn, mỗi chữ Hán mang một trái đào, hoặc đóa hoa. Loại kèm theo hình con dơi ngậm trái tụi, chậu bông, con hạc… theo mô - típ của mỹ thuật Huế. Loại tranh đắt tiền thì dùng nước sơn đỏ làm nền, câu liễn gắn ốc xà cừ. Kiếng nhập cảng ở Sài Gòn giá không cao, màu vẹc ni xanh (Vernicobalt) khiến cho tranh thờ Lái Thiêu trở nên trang nghiêm, rực rỡ (…), ta gặp vài tấm tranh kiếng thờ xưa, nếu chùi kiếng, xem như mới, qua 70 năm” (Sơn Nam – 1991: Địạ chí Sông Bé, trong phần truyền thống Văn hóa, trang 345).
Nhà văn Sơn Nam còn cho biết thêm sự cải tiến tranh thời cổ theo phong cách Nam bộ trong tranh kiếng Lái Thiêu, Nghệ nhân ở lái Thiêu lại cải tiến tranh thờ tổ tiên, trước kia thờ chữ “Phước”, Chữ “Lộc”, hoặc tranh nhập từ huơng cảng với non cao, cây tùng và dòng suối. Tranh vẽ trên kiếng ra đời vui tươi hơn, có dòng sông chảy ra biển, cây phượng trổ hoa, ngôi nhà ngói. Vẫn là “cây cội nước nguồn” ở vùng văn minh sông nước phổ biến đến tận mũi cà mau…”. Ông cũng nói đến một cảnh sinh hoạt của nhóm thợ vẽ tranh kiếng tại Lái Thiêu: “Dọc theo bờ rạch Lái Thiêu, có dãy nhà chuyên vẽ kiếng, thợ chính vẽ mô hình, phụ nữ và trẻ con thì tô nước sơn sau đó thợ chính dặm lại lần chót cho hoàn chỉnh”. (Sđd trang 345).
Nghề vẽ tranh trên kiếng ở những năm đầu của thế kỷ 20, Nam bộ có 3 nơi sản xuất nhiều nhất và rất là nổi tiếng đó là : Lái Thiêu ( Thủ Dầu Một - Bình Dương), Chợ Lớn (Sài Gòn) và Chợ Mới (An Giang). Ba trung tâm này tạo thành 3 phong cách và đặc điểm riêng biệt. Mặt hàng nổi tiếng nhất của Lái Thiêu là tranh thờ tổ tiên và tranh cửa buồng Lái Thiêu đa dạng, có loại vẽ nhiều màu sắc nhưng cũng có loại chỉ vẽ màu xanh hoặc đỏ, các loại hoa văn thường cẩn ốc xà cừ. Đường nét của tranh vừa tỉ mỹ vừa cách điệu.
Người thợ Lái Thiêu thường mạnh dạng dùng gam màu ngũ sắc Huế gồm các màu như: Trắng, hường, đỏ, đen, xanh dương, xanh màu lông Két…Tùy từng loại sản phẩm mà người ta có thể dùng mực Tàu, sơn Tây hoặc bột màu pha a dao…
Tranh kiếng ở đây rất được chú ý đến nội dung và hình thức chữ viết nên nhiều bộ tranh Lái thiêu đẹp và có ý nghĩa, tranh kiếng được treo trong nhà tạo nên nét đẹp mỹ thuật làm tôn lên vẻ đẹp sang trọng của ngôi nhà lúc bấy giờ. So với tranh kiếng của Chợ Mới (An Giang) và tranh kiếng Chợ Lớn (Sài Gòn), tranh kiếng Lái Thiêu đẹp hơn, tinh tế hơn. Đặc biệt người thợ Lái Thiêu chú ý nhiều đến thể loại tranh thờ tổ tiên, phù hợp với truyền thống thờ phụng và thị hiếu của người Việt Nam. Còn người thợ tranh kiếng Chợ Lớn thì họ thường chú trọng đến tranh Thánh Thần, tranh bài vị, cùng các hoành phi, liễn đối, tranh dùng để chúc mừng, xưng tụng thường phù hợp với tâm lý của người Hoa.
Riêng tranh kiếng Chợ Mới (An Giang) ra đời muộn hơn, sản phẩm không được đẹp như tranh kiếng của Lái Thiêu, Chợ Lớn, nhưng nó lại có nhiều mẫu mã phong phú, đa dạng, giá thành lại rẻ hơn. Hiện nay, sản phẩm tranh kiếng Chợ Mới vẫn còn bán trên thị trường Miền Tây Nam Bộ, tuy không nhiều như xưa nhưng nó vẫn còn tồn tại.
Tranh kiếng có rất nhiều thể loại và khá phong phú như: tranh thờ Phật, Trời, Tổ Tiên ông bà, Cửu Huyền Thất Tổ…Riêng những tranh dùng để treo ở cửa buồng (Trang trí theo đặc điểm kiến trúc nhà ở Nam bộ), tranh phong cảnh, nhân vật, vật linh…Loại tranh thờ phật Trời, Tổ tiên thường treo ở bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà, thường thể hiện các đề tài như: Bức tranh hoành phi, liễn đối, chung quanh trang trí viền bằng cây trúc, cây tùng minh họa, tranh viết chữ “Phước Lộc Thọ” trên nền đỏ, xung quanh vẽ khung hình dây lá hoặc hồi văn đôi khi có thêm con bướm hay con dơi ngậm trụ chỉ. Tất cả các chữ trên tranh đều được viết bằng chữ Hán. Ngoài ra loại tranh này còn vẽ một bụi mai già bên cạnh có cây trúc, bụi mai, bụi lan, cúc…tượng trưng cho vẻ đẹp cao khiết, thanh tao. Đề tài khác hắp dẫn hơn đối với những người bình dân như tranh vẽ phong cảnh, vẽ núi non, bầu trời…Tranh cao cấp thì có một tấm liễn vẽ một cành cây có 7 bông, xung quanh có lá, có nụ, phía trên có ghi chữ Hán, loại tranh này rất đắc tiền nên chỉ có những gia đình khá giả, giàu có mới có khả năng mua sắm loại tranh này về để trang trí.
Loại tranh thờ Phật Trời Thánh thần: có khổ nhỏ, dùng để thờ Phật, Thánh, Thần, Thổ Địa…gồm có 2 loại: Tranh vẽ các vị Phật Adi Đà, Quan Âm Bồ Tát, đức ông Quan Thánh Đế Quân, Mẹ Sanh - Mẹ Độ…các bài vị (loại này chỉ có chữ, xung quanh trang trí hoa văn) thường treo trong các chùa, đình miếu…
Loại tranh thờ ông bà tổ tiên: thường được treo ở bàn thờ tổ tiên, thờ phật…loại tranh này thường được thể hiện các đề tài như: các bức hoành phi, câu đối có chữ “Trần Phủ Đường” (ghi họ tên gia chủ), “Thiện tối lạc” (ca tụng tổ tiên), xung quanh trang trí dây lá, hồi văn hoặc trang trí viền cây trúc cây tùng minh họa. Tranh viết chữ “Phước” “Lộc” “Thọ” trên nền đỏ, xung quanh trang trí dây lá hoặc hồi văn, thỉnh thoảng có thêm con bướm hoặc con dơi ngậm trụ chỉ. Tất cả các chữ vẽ trên tranh đều được viết bằng chữ Hán.
Loại tranh treo cửa buồng: Đây là loại tranh sáng tác để trang trí theo kiến trúc đặc biệt của ngôi nhà ở Nam bộ. Trong gian nhà ngoài (phòng khách), bàn thờ được đặt chính diện với cửa chính, phía trước bàn thờ đặt một cái tủ lớn, một bộ bàn ghế tiếp khách, hai bên bàn thờ có hai lối đi vào trong (buồng) gọi là cửa buồng, thường treo tấm rèm hay tấm màn cửa, có hoa văn đẹp để che cửa, phía trên cửa treo tranh trang trí. Tranh kiếng cửa buồng thường có kích thước cỡ 0,9m X 0,6m. Tranh cửa buồng vẽ theo đề tài “Loan phượng hòa minh” (tượng trưng cho sự giàu có sang trọng).
Loại tranh tứ bình, phong cảnh, nhân vật và vật linh: Một tranh tứ bình gồm 4 tấm treo trên vách để trang trí. Ngoài cảnh trời mây, sông núi thường vẽ các đề tài phổ biến như “Mai Lan Liên (Sen) cúc” tượng trưng cho 4 mùa trong năm, “Bát Tiên quá hải” (Tám Tiên vượt biển), “Tứ hùng”(vẽ 4 con mãnh thú: Cọp, Báo, Sư tử…Ngoài ra cũng có tranh đề tài 4 bó hoa (loại hoa phương Tây) hoặc những đàn hạc lội ven sông…(loại tranh này mô phỏng như tranh ở phương tây) xuất hiện muộn hơn, thích hợp cho các nhà ở nơi thành thị, .
Tranh kiếng thường được sản xuất theo kiểu gia đình, các gia đình thường tập trung thành xóm nghề. Sản phẩm thường làm theo đơn đặt hàng hoặc tự bán cho lái buôn. Trong một xưởng vẽ tranh thường có năm bảy thợ, trong đó thường có một người giỏi tay nghề chỉ huy và am tường về kỹ thuật và phân công cho thợ chuyên môn, thợ phụ để hoàn chỉnh một bức tranh.
Tranh kiếng Lái Thiêu không chỉ được tiêu thụ rộng rãi ở khắp miền Nam, mà còn mở rộng ra các vùng lân cận như miền Trung và nước bạn Campuchia.
Trong khoảng thời gian khá dài tranh kiếng nói chung, đặc biệt là tranh kiếng Lái Thiêu của Bình Dương trước đây đã được phổ biến rộng rãi ở không chỉ trong các gia đình khá giả, quý tộc mà đến cả số cư dân nghèo ở nông thôn. Đây là nghề thủ công truyền thống đã giữ một vai trò khá quan trọng trong việc giải quyết đời sống kinh tế dân sinh của một bộ phận làm nghề và liên quan đến nghề vẽ tranh trên kiếng, vừa đáp ứng được nhu cầu văn hóa về thẩm mỹ trang trí nhà cửa cũng như nơi bàn thờ cúng tổ tiên của cư dân địa phương và các vùng lân cận. Tiếc thay hiện nay nghề thủ công truyền thống nói trên không còn phù hợp với thời đại nữa. Nghệ thuật vẽ tranh trên kiếng chỉ còn lưu lại dấu vết trong các Đình Chùa, nhà cổ, hoặc ở một số xe bánh mì, xe hủ tiếu cổ của người Hoa. Rất nhiều người thật là núi tiếc và thậm chí họ còn mong ước sự phục hồi của nghề vẽ tranh kiếng cũng như vẻ đẹp của một bức tranh kiếng được trang trí làm tô điểm thêm cho ngôi nhà.Việt.
Có thể nói nhu cầu về văn hóa là rất cần thiết, nhưng cách thể hiện và đáp ứng ấy thường thay đổi theo thực tiễn của cuộc sống và thị hiếu thẩm mỹ của xã hội, thực tế với từng thời điểm của cuộc sống xã hội mà phù hợp. tranh kiếng cũng không nằm ngoại lệ những trường hợp như thế. Nay nghề thủ công truyền thống này không còn tồn tại nữa mà nó đã đi dần vào trong sự mai một lãng quên. Lý do thì có nhiều đấy nhưng nguyên nhân chủ yếu có lẽ là do chiến tranh, nhất là sau 1945 phần lớn là do nhà cửa ở vùng nông thôn đều bị hủy hoại. Mặt khác, thị hiếu về tranh thờ, tranh trang trí của nhân dân có nhiều thay đổi, trong khi các loại tranh vẽ, ảnh chụp truyền thần, chân dung phong cảnh ngày càng tiến bộ hơn, mang lại cho người tiêu dùng nhiều lựa chọn hơn. Tranh kiếng có vẻ như bị lạc hậu với thời đại nên không được người tiêu dùng ưa chuộng và sử dụng. thiết nghĩ để phục hồi lại nghề thủ công truyền thống này, nên chăng cần có sự cải tiến và đổi mới gì đó thì chắc sẽ có cơ hội để đi vào đời sống văn hóa cũng như thị hiếu thẩm mỹ của người tiêu dùng mà thôi./.
|
|
Nghề Guốc mộc ở Bình Dương |
Xóm làm mộc ở Phú Văn, xã Phú Thọ (nay thuộc phường Phú Thọ), tại TX.TDM không những chỉ âm vang tiếng đục, tiếng gõ của nghề điêu khắc chạm trổ trên gỗ mà từ lâu lắm cũng đã vang lên những tiếng cưa tiếng xẻ của nghề làm guốc mộc.
Theo lời kể lại của nhiều người thì nghề làm guốc mộc ở đây xuất hiện khoảng hơn 100 năm. Theo tài liệu được thống kê tại địa chí Thủ Dầu Một năm 1901 thì tại xóm làm guốc Phú Văn có trên 80 hộ gia đình sống bằng nghề làm guốc từ cha truyền con nối. Và từ lâu con đường này được nhân dân địa phương quen gọi là đường xóm guốc. Đến năm 1999, tên đường này được công nhận và ghi vào hệ thống các tên đường của TX.TDM.
Do nhu cầu sinh hoạt và làm đẹp của con người đã sản sinh ra nghề làm guốc. Tuy lúc đầu có liên quan đến nghề mộc cổ truyền nói chung nhưng khi hình thành nghề làm guốc thì hoàn toàn độc lập và mang nặng bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc vì đôi guốc là vật dụng rất thân thiết với người dân Việt từ thời xa xưa trước khi đôi dép, đôi giày bằng da, bằng nhựa lần lượt ra đời với nhiều kiểu dáng đẹp và lạ mắt. Đâu đó trong phim truyện Việt Nam, chúng ta vẫn còn bắt gặp một vài ông già Nam bộ còn mang guốc dong và búi tóc sau đầu với bộ trang phục bà ba đen rặc chất Nam bộ.
Về thể loạiguốc gồm có: Guốc mộc, guốc sơn, về sau guốc được kết hợp với loại nghề truyền thống khác làm thành đôi guốc sơn mài có dáng vẻ màu sắc mỹ thuật trông rất hấp dẫn.
Dụng cụ để làm guốc thật đơn giản: chỉ cần một chiếc cưa tay, một thớ gỗ vụn, người thợ ngày xưa theo mẫu có sẵn xẻ thành một đôi guốc thô. Gỗ dùng làm guốc thường phải đạt yêu cầu: Xốp và nhẹ nhưng phải bền chắc không lõi. Các loại cây gỗ dùng để làm guốc là loại gỗ: Mít, dong, lùn mứt... Loại cây này dễ cưa xẻ, vừa phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Để làm ra các loại guốc đa dạng về kiểu dáng và mẫu mã thì ngay từ lúc đầu các cơ sở sản xuất guốc đều chỉ làm ra đôi guốc mộc. Đây là đôi guốc được dùng nguyên chất liệu và màu sắc của gỗ, chỉ cần cưa xẻ, bào gọt thành hình đôi guốc rồi chà láng, đóng quai và đem đi tiêu thụ, sử dụng. Nhờ có nguồn nguyên liệu gỗ thật dồi dào, cộng với nhiều lao động nhàn rỗi như: Phụ nữ, trẻ em, những người lớn tuổi nên Bình Dương cũng đã sản xuất đại trà các loại guốc sơ chế và cung cấp cho các cơ sở guốc ở Chợ Lớn, Sài Gòn, Gia Định để các nơi này hoàn tất sản phẩm cho ra đời những đôi guốc thành phẩm.
Vào những thập niên 20 đến 70 của thế kỷ XX, xóm làm guốc Phú Thọ làm ăn rất thịnh vượng. Loại guốc xuồng đáp ứng nhu cầu người bình dân gần như tiêu thụ rộng rãi trong khắp cả nước. Bên cạnh đó, những loại guốc kiểu, guốc có chất liệu tốt, trang trí màu sắc mỹ thuật, hoa văn thật bắt mắt đã chiếm lĩnh thị trường của cả khu vực Đông Nam Á và một vài nước ở châu Âu. Ở giai đọan này, hàng năm xóm làm guốc ở Phú Thọ sản xuất hàng ngàn đôi guốc thô, nuôi sống gần 1.000 người thợ và gia đình họ với mức sống khá giả và sung túc. Kỹ thuật làm guốc ngày càng được cải thiện, thay vì dùng cưa tay, các cơ sở làm guốc trang bị các dạng máy cưa đơn giản, thường là cưa lọng nên sản xuất hàng loạt và nâng cao được chất lượng sản phẩm.
Nghề làm guốc ở Phú Thọ chủ yếu cưa, lọng guốc theo dạng thô, tạo dáng guốc theo kiểu đơn giản. Công việc vẽ guốc, trang trí, đóng quai để làm thành phẩm thường được các nơi khác thực hiện như: Sài Gòn, Chợ Lớn... Một cơ sở làm guốc không nhiều nhân lực: Chỉ có một thợ chính cưa, lọng và từ 1 đến 3 thợ phụ (vẽ mẫu guốc) thường là phụ nữ, trẻ em thì làm các công đoạn đơn giản, rất thích hợp cho từng hộ gia đình.
Vào các thập niên 60, 70 ở thế kỷ trước, có một số cơ sở, nhất là vùng giáp ranh với Sài Gòn, Gia Định như: Bình Nhâm, Vĩnh Phú còn sản xuất guốc sơn và đặc biệt là guốc sơn mài để cung cấp cho thị trường guốc mỹ thuật thời trang, theo thị hiếu tiêu dùng của các đô thị thời bấy giờ. Nghề guốc Bình Dương có nhiều ưu thế và dễ phát triển nhờ các cơ sở, làng guốc ở đây luôn biết tận dụng nguyên liệu dồi dào tại chỗ lại tiếp cận được thị trường đầu mối rộng lớn là thành phố Sài Gòn. Hơn nữa lao động làm guốc không phải là lao động nặng nhọc mà chỉ đòi hỏi sự khéo léo cần mẫn trong quá trình sản xuất ra loại sản phẩm này. Người thợ chính giữ phần sáng tác, tạo ra những mẫu mới nhằm kịp thời đáp ứng được nhu cầu về thẩm mỹ và thị hiếu của người tiêu dùng, các thợ khác cứ theo đó mà cưa bào, tỉa gọt, đánh bóng, đóng quai và hoàn thành sản phẩm một cách dễ dàng, nhanh chóng. Nếu là guốc sơn, sơn mài thì chuyển qua bộ phận chuyên về sơn, sơn mài hoặc chuyển đến các cơ sở chuyên thực hiện tiếp công đoạn cuối cùng của sản phẩm.
Nghề làm guốc hoạt động chủ yếu là gia công tại nhà hoặc một nhóm hộ liên kết lại với nhau. Riêng xóm làm guốc Phú Thọ từ lâu đã cung ứng một lượng hàng đáng kể có chất lượng cao trong một thời gian dài và đã tạo được một thương hiệu có uy tín. Sản phẩm guốc Bình Dương không chỉ tiêu thụ trong tỉnh, trong khu vực mà còn xuất khẩu sang một số nước châu Á, nhiều nhất là Campuchia và Lào. Trong những năm gần đây, khi chất lượng mẫu mã các loại giày dép hàng hiệu thời trang cực kỳ phong phú và bắt mắt đang tràn ngập trên thị trường. Trước những thách thức đó, đôi guốc mộc của Bình Dương tưởng chừng như bị loại bỏ ra khỏi quy luật tự nhiên của con người trong xã hội hiện đại. Thế nhưng nghề guốc Bình Dương vẫn sống, vẫn tồn tại vì vẫn còn một số bộ phận khách hàng riêng. Có được chỗ đứng trên thị trường như vậy là nhờ sự nhạy bén, óc sang tạo và sự năng động không ngừng của người thợ thủ công, sự cần mẫn và khéo léo kết hợp giữa nghề làm guốc và kỹ thuật sơn mài truyền thống của địa phương đã tạo ra một sản phẩm mới vừa mang vẻ đẹp truyền thống vừa có dáng dấp của xu thế thời trang hiện đại. Đó không chỉ mở ra cho đôi guốc Bình Dương một triển vọng mới mà cho cả đôi guốc truyền thống Việt Nam.
Nghề làm guốc cũng ít nhiều nỗi thăng trầm, không ổn định. Từ thập niên 70 cho đến nay do sự cạnh tranh gay gắt của các loại giày, dép da, nhựa. Hiện tại nhu cầu làm đẹp của giới nữ chủ yếu là ở các loại guốc có kiểu dáng đẹp và sang trọng. Hơn nữa trong thời đại công nghiệp như hiện nay hình như đôi guốc ít khi phù hợp với người phụ nữ hiện đại cho lắm, thẩm mỹ về thời trang ngày nay không còn thông dụng như thời trước nữa. Vì thế nghề làm guốc không được rầm rộ như xưa. Số hộ làm guốc ở đây còn chỉ độ khoảng trên dưới 20 hộ, quang cảnh nhộn nhịp của xóm guốc ngày xưa bây giờ có vẻ như yên ả và tĩnh lặng hơn. Trước nền công nghiệp hiện đại ngày càng phát triển, âm vang một làng nghề truyền thống đang dần bị đẩy lùi vào trong quá khứ của vùng đất một thời vang bóng đã đi vào ký ức và lịch sử vì chính nơi đây đã hình thành nên chiếc nôi truyền thống của nghề làm guốc đã từng tồn tại và phát triển hơn một thế kỷ.
Ngoài xóm làm guốc ở Phú Thọ, TX.TDM ra ở xã Bình Nhâm, huyện Thuận An, Bình Dương hiện đang tồn tại một Công ty TNHH Hùng Thái (anh Thái Văn Hùng, là con trai của ông Ba Thân, một trong những cơ sở làm guốc lâu năm theo kiểu cha truyền con nối của đất Bình Nhâm), đây cũng là một địa chỉ tạo việc làm cho hơn 60 công nhân với bình quân khoảng một triệu đồng/người/ tháng.
Được biết 5 người con của ông Ba Thân đều làm nghề guốc theo kiểu cha truyền con nối. Dù là nghề có lắm nỗi thăng trầm nhưng cha con của ông vẫn kiên trì với nghề nghiệp. Cho đến nay đôi guốc của cơ sở này đã có mặt nhiều trên thị trường các nước châu Á, châu Âu, cụ thể là các nước: Nhật, Malaysia, Đài Loan…


.gif)



.jpg)

























.jpg)

.gif)